E-magazine
06:00 | 10/08/2026

Nhìn lại giai đoạn đầu đổi mới, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước đã ưu tiên dành nguồn lực đầu tư cho y tế, quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Song trước nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng lớn, số chi từ ngân sách chỉ đáp ứng khoảng 50%. Yêu cầu đặt ra phải thay đổi cơ chế tài chính y tế nhằm tạo thêm kinh phí, ngoài nguồn lực đầu tư từ ngân sách.

Từ thực tế đó, ngày 24/4/1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 45/HĐBT cho phép các cơ sở khám chữa bệnh được thu một phần viện phí để cải thiện điều kiện phục vụ cho bệnh nhân.

Bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện chính sách này đã tác động không nhỏ đến một bộ phận người dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa không có khả năng chi trả… Chính sách BHYT nước ta ra đời trong bối cảnh đó.

Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, dựa trên nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”. Ngày 26/10/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã có Công văn số 3504/KG đồng ý thực hiện thí điểm BHYT tại một số địa phương.

Hải Phòng là địa phương được chọn để thí điểm thực hiện bảo hiểm sức khỏe. Và chỉ trong một thời gian ngắn, Trung tâm Bảo hiểm sức khỏe TP. Hải Phòng ra đời, huyện Thủy Nguyên được địa phương chọn làm điểm để nhân ra diện rộng nếu mô hình thành công.

Ngày đó, tư duy bao cấp còn nặng nề nên việc vận động người dân bỏ tiền túi mua thẻ BHYT gặp muôn vàn khó khăn. Trong giai đoạn “vạn sự khởi đầu nan” đó, Trung tâm Bảo hiểm sức khỏe TP. Hải Phòng và huyện Thủy Nguyên đã thuyết phục những lãnh đạo cao nhất của địa phương hưởng ứng. Ông Đào Xuân Thạo, Chủ tịch UBND huyện lúc bấy giờ là người sở hữu tấm thẻ BHYT đầu tiên của cả nước.

Người mua tấm thẻ BHYT thứ hai là ông Nguyễn Xuân Phiến, Phó Chủ tịch UBND huyện Thủy Nguyên. Mệnh giá thẻ ngày đó là 4.000 đồng/người/năm, tương đương với khoảng 5 cân gạo. Chi phí không quá nhiều, nhưng trong thời bao cấp, việc mua thẻ BHYT là điều mà nhiều người dân khó chấp nhận. Nhưng nhận thức được sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của Chủ nghĩa xã hội nên “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Từ đó, cứ một đảng viên mua thì sau đó vận động thêm vài người dân cùng mua BHYT.

Cùng với Hải Phòng, Quỹ khám, chữa bệnh BHYT ở Vĩnh Phú; BHYT tự nguyện ở huyện Mỏ Cày (Bến Tre); BHYT tự nguyện ở Quảng Trị; Quỹ KCB tại Bệnh viện Đ­ường sắt; Quỹ bảo trợ y tế tại Bệnh viện B­ưu điện… đồng loạt thí điểm. 

Ngày 15/4/1992, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII thông qua và đây là lần đầu tiên khái niệm BHYT được đề cập tại Điều 39 trong Hiến pháp. Đây là nền tảng hiến định quan trọng làm cơ sở cho việc hình thành, phát triển hệ thống pháp luật BHYT và việc thực hiện chính sách BHYT ở nước ta.

Để cụ thể hóa Điều 39 trong Hiến pháp 1992, ngày 15/8/1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định 299-HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam.

Tại Điều lệ BHYT, lần đầu tiên chính sách BHYT được quy định là hình thức bắt buộc đối với cán bộ, công nhân viên chức tại chức, hưu trí, nghỉ mất sức lao động, chủ sử dụng lao động và người lao động; đồng thời quy định các đối tượng khác tham gia BHYT theo hình thức tự nguyện. Đối tượng HSSV được quy định là nhóm đối tượng tham gia BHYT theo hình thức tự nguyện.

Đây cũng là nhóm được Đảng, Nhà nước định hướng ưu tiên triển khai trước nhằm tiến nhanh tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân. Theo ông Bùi Sỹ Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, sở dĩ chọn thực hiện nhóm đối tượng này, bởi HSSV có tác động mạnh mẽ tới việc xây dựng, hoàn thiện, đổi mới cơ chế tài chính và hiệu quả hoạt động cho hệ thống y tế trường học vốn chưa được quan tâm đúng mức, từ đó dẫn đến hệ lụy các bệnh về học đường gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe và kết quả học tập của HSSV, làm giảm chất lượng đào tạo thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước.

Từ năm 1992 đến năm 2005, Điều lệ BHYT đã 3 lần được sửa đổi, thay thế để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách cũng như công tác quản lý, điều hành.

Để thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân, năm 2008, Quốc hội thông qua Luật BHYT số 25/2008/QH12, sau đó là Luật số 46/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT 2008.

Luật BHYT đã xác định rõ 5 nguyên tắc của BHYT là: Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT; mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính theo quy định của Chính phủ; Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT; Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả; Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu chi và được Nhà nước bảo hộ.

Đối với nhóm đối tượng HSSV, Luật quy định lộ trình thực hiện từ tự nguyện chuyển sang đối tượng bắt buộc tham gia BHYT, theo đó, từ 01/10/2010, HSSV trở thành nhóm đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT.

Thu Hương - Dương Hưng