![]() |
| Hội thảo chuyên đề “Kiến tạo tài chính công thông minh thông qua dữ liệu và AI”. |
Dữ liệu an sinh trở thành nguồn lực quản trị
Chia sẻ tại Hội thảo chuyên đề “Kiến tạo tài chính công thông minh thông qua dữ liệu và AI” thuộc Vietnam Digital Finance 2026, ông Chu Mạnh Sinh, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam nhấn mạnh, giá trị của dữ liệu không nằm ở số lượng đang nắm giữ. Điều quan trọng là khả năng chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, phân tích và chuyển dữ liệu thành sản phẩm phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Cách tiếp cận đó phản ánh bước chuyển khá rõ trong quản trị của hệ thống BHXH. Từ phương thức dựa nhiều vào hồ sơ, giấy tờ, hệ thống đang tiến dần sang quản lý dựa trên dữ liệu; từ các nguồn thông tin phân tán sang dữ liệu tập trung tại Trung ương, được liên thông và tích hợp để tạo nền tảng cho giải quyết chính sách, cung cấp dịch vụ và hỗ trợ ra quyết định.
Quy mô của nền tảng này rất lớn. Hệ thống BHXH Việt Nam đang quản lý dữ liệu của khoảng 95% dân số tham gia BHYT, khoảng 45% lực lượng lao động tham gia BHXH cùng hàng trăm triệu lượt khám chữa bệnh BHYT, dữ liệu chi trả chế độ và thông tin người hưởng. Đến nay, 99,82% người tham gia, thụ hưởng đã được xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Đằng sau tỷ lệ 99,82% là một thay đổi quan trọng trong phương thức định danh. BHXH Việt Nam đã chuyển sang sử dụng số định danh cá nhân, căn cước công dân thay cho mã số BHXH. Theo ông Chu Mạnh Sinh, quá trình xác thực dữ liệu dân cư không dừng ở làm sạch thông tin, qua đó từng bước hình thành cơ chế định danh thống nhất giữa các hệ thống.
Dòng dữ liệu ấy đang tiếp tục được mở rộng qua kết nối với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng cùng các bộ, ngành, địa phương. Các danh mục, tiêu chuẩn dữ liệu, tiêu chuẩn kết nối và API cũng được chuẩn hóa để dữ liệu có thể lưu chuyển, tái sử dụng hiệu quả hơn.
Từ tháng 3/2026, BHXH Việt Nam chính thức truyền dữ liệu tích hợp ký số thuộc Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Đến ngày 31/8/2026, hơn 66,1 triệu bản tin đã được tích hợp, đồng bộ thành công; thông tin thẻ BHYT của hơn 87,7 triệu người cũng được chuyển sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Để người dân không phải đi tìm giấy tờ
Một kho dữ liệu lớn sẽ khó có nhiều ý nghĩa nếu người dân vẫn phải kê khai những thông tin cơ quan nhà nước đã có. Bởi vậy, điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của BHXH Việt Nam là chuyển trọng tâm từ “có dữ liệu” sang “dùng dữ liệu để phục vụ”, lấy những thay đổi trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chuyển đổi số.
Theo ông Chu Mạnh Sinh, kết quả cần được nhìn thấy qua những điều rất cụ thể: ít thủ tục hơn, ít giấy tờ hơn, giảm kê khai, giảm đi lại, thời gian giải quyết nhanh hơn và kết quả chính xác, minh bạch hơn. Từ cuối tháng 5/2026, BHXH Việt Nam đã hoàn thành tích hợp 100% dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công quốc gia tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
![]() |
| Ông Chu Mạnh Sinh, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam trình bày tham luận tại Hội thảo. |
Nguyên tắc được đặt ra rõ ràng là thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu và có thể kết nối, chia sẻ thì không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại. Đây là bước thay đổi quan trọng, bởi chuyển đổi số lúc này đi sâu vào cách thiết kế thủ tục thay vì chuyển một quy trình sử dụng giấy sang một quy trình tương tự trên môi trường điện tử.
Khám chữa bệnh BHYT bằng căn cước công dân là minh chứng dễ nhận thấy. Hiện 100% cơ sở khám chữa bệnh BHYT đã triển khai tra cứu thông tin thẻ bằng số định danh cá nhân, căn cước công dân. Từ đầu năm 2026 đến thời điểm báo cáo, hơn 136,6 triệu lượt tra cứu thành công; lũy kế từ khi triển khai năm 2023 đạt 457,6 triệu lượt.
Những con số ấy đi vào đời sống qua một thay đổi rất gần gũi giúp người bệnh giảm việc mang theo, xuất trình thẻ BHYT giấy; cơ sở y tế xác thực thông tin nhanh hơn; cơ quan BHXH có thêm điều kiện nâng cao chất lượng dữ liệu và kiểm soát quá trình thực hiện chính sách. Dữ liệu lúc này đã trực tiếp tham gia vào quá trình cung cấp quyền lợi an sinh.
Chuyển đổi số cũng đang thay đổi phương thức chi trả. Tại kỳ chi trả tháng 9/2026, tỷ lệ người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH qua tài khoản đạt 94,8%, tương ứng hơn 3,5 triệu người trên toàn quốc. Song bước phát triển cao hơn được BHXH Việt Nam hướng tới là tái thiết kế quy trình để dịch vụ có thể chủ động tìm đến người đủ điều kiện.
“Khi người lao động đến tuổi, cơ quan BHXH có thể chủ động gửi thông báo để xác nhận, bổ sung thông tin cần thiết như tài khoản nhận lương hưu hoặc nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu. Sau khi thông tin hoàn thiện, chế độ có thể được giải quyết mà người lao động không phải thực hiện thêm thủ tục khác”, ông Chu Mạnh Sinh lấy ví dụ.
Muốn AI trở thành “trợ lý”, dữ liệu phải đi trước một bước
Khi dữ liệu đủ lớn, được chuẩn hóa và liên thông, bài toán tiếp theo là dữ liệu cần có khả năng hỗ trợ phân tích, dự báo, cảnh báo và ra quyết định. Đây là khoảng không gian mà AI có thể tạo ra bước tiến mới cho quản trị BHXH, BHYT, BHTN trong những năm tới.
Theo ông Chu Mạnh Sinh, một hướng ứng dụng là sử dụng AI hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tra cứu chính sách, hướng dẫn thủ tục và cá thể hóa thông tin theo quá trình tham gia, thụ hưởng. Dịch vụ khi đó có thể chuyển dần từ cách thức “người dân hỏi - cơ quan trả lời” sang chủ động cung cấp nội dung phù hợp với từng trường hợp.
Với cán bộ nghiệp vụ, AI có thể trở thành một “trợ lý” hỗ trợ tra cứu quy định, tổng hợp hồ sơ, đối chiếu dữ liệu, nhận diện thông tin thiếu hoặc mâu thuẫn và gợi ý những nội dung cần kiểm tra. Tuy nhiên, công nghệ chỉ giữ vai trò hỗ trợ. Những quyết định liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân vẫn thuộc trách nhiệm của con người và phải tuân thủ pháp luật.
Dư địa lớn khác nằm ở phân tích rủi ro. Khối lượng giao dịch trong thu, giải quyết chế độ và khám chữa bệnh BHYT rất lớn, khiến phương pháp kiểm tra thủ công khó phát hiện kịp thời mọi bất thường. AI và công nghệ phân tích dữ liệu có thể hỗ trợ nhận diện những mô hình đáng chú ý, giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực kiểm tra đúng khu vực có nguy cơ cao.
Ở tầm quản trị, dữ liệu lịch sử kết hợp các mô hình phân tích có thể hỗ trợ dự báo xu hướng tham gia, thụ hưởng, chi phí khám chữa bệnh và tác động của chính sách. Qua đó, phương thức điều hành có thể dịch chuyển từ việc nhìn lại những gì đã xảy ra sang chủ động nhận diện xu hướng và chuẩn bị phương án cho những biến động có thể xuất hiện.
Tuy nhiên, AI càng tiến sâu vào lĩnh vực an sinh, yêu cầu về độ tin cậy càng cao. Ông Chu Mạnh Sinh nhấn mạnh quản trị dữ liệu phải đi trước ứng dụng AI một bước. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu chính xác, công nghệ có thể khuếch đại sai lệch. Nền tảng dữ liệu phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” và an toàn trước khi giao thêm nhiệm vụ cho AI.
Từ thực tiễn đó, BHXH Việt Nam đề xuất hình thành không gian dữ liệu thống nhất của ngành Tài chính, đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu thay cho chia sẻ giấy tờ, nghiên cứu khung quản trị AI dùng chung, đồng thời khai thác chung một số năng lực về dữ liệu lớn, AI và hạ tầng tính toán. “An toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cần được thiết kế ngay từ đầu”, ông Chu Mạnh Sinh nhấn mạnh.