![]() |
| Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng, tăng 40.000 đồng so với mức 500.000 đồng trước đây. |
Nhiều nhóm đối tượng được trợ giúp thường xuyên
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 của Chính phủ quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.
Theo Nghị định, mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng, tăng 40.000 đồng so với mức 500.000 đồng trước đây.
Mức chuẩn này là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác.
Trong trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương bảo đảm, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội trên địa bàn cao hơn mức quy định tại Nghị định. Địa phương cũng có thể quyết định chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng khó khăn khác chưa được quy định trong Nghị định.
Nghị định quy định các nhóm đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng.
Trong đó, nhóm trẻ em dưới 16 tuổi thuộc nhiều hoàn cảnh đặc biệt như bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; trẻ có cha mẹ đã chết hoặc không xác định được; cha hoặc mẹ đã chết, không xác định được và người còn lại mất tích, đang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Người thuộc nhóm trẻ em nêu trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng nhưng đã đủ 16 tuổi và tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học văn bằng thứ nhất cũng tiếp tục được hưởng chính sách cho đến khi kết thúc việc học, nếu quá trình học liên tục.
Các nhóm khác gồm trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ, hoặc đã có chồng, vợ nhưng người này đã chết hoặc mất tích và đang nuôi con dưới 16 tuổi; người cao tuổi thuộc hộ nghèo trong những hoàn cảnh đặc biệt; người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng.
Nghị định cũng quy định trợ giúp đối với trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đang sống tại các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn; người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Mức trợ cấp được tính theo hệ sốTheo quy định mới, mức trợ cấp xã hội hằng tháng được xác định bằng mức chuẩn 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng từng nhóm đối tượng.
Đối với trẻ em thuộc diện trợ giúp xã hội, hệ số là 2,5 đối với trẻ dưới 4 tuổi và 1,5 đối với trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo được hưởng hệ số 2,5 nếu dưới 4 tuổi và 2,0 nếu từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Người đơn thân nghèo nuôi con được hưởng hệ số 1,0 đối với mỗi người con đang nuôi.
Đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, mức hưởng được xác định theo độ tuổi và hoàn cảnh. Hệ số 1,5 áp dụng với người từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc trường hợp quy định; hệ số 2,0 đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên; trường hợp người cao tuổi không có điều kiện sống ở cộng đồng nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng được áp dụng hệ số 3,0.
Đối với người khuyết tật, hệ số 2,0 áp dụng với người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng. Người khuyết tật nặng hưởng hệ số 1,5; trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng hưởng hệ số 2,0.
Các đối tượng là trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện quy định và người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo được áp dụng hệ số 1,5.
Trường hợp một đối tượng thuộc diện hưởng nhiều mức trợ cấp theo các hệ số khác nhau thì chỉ hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo nuôi con đồng thời thuộc nhóm người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người nhiễm HIV/AIDS theo quy định được hưởng cả chế độ trợ cấp dành cho người đơn thân nghèo nuôi con và chế độ tương ứng với nhóm đối tượng còn lại.
| Nghị định cũng quy định đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng đang học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học được hưởng chính sách, chế độ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật. Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026. Tuy nhiên, các đối tượng đang hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP được chuyển sang mức tương ứng theo Nghị định mới từ ngày 1/7/2026. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng kể từ ngày 1/7/2026. Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội tổ chức thực hiện chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng theo mức quy định tại Nghị định từ thời điểm này.
|