![]() |
| Chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965–1975. Ảnh có sự hỗ trợ của AI |
Nghị định quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965–1975 nhằm ghi nhận những đóng góp, hy sinh của lực lượng thanh niên xung phong trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Văn bản quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện hưởng chính sách, chế độ trợ cấp một lần, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp mai táng và chính sách vay vốn sản xuất, kinh doanh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho những người từng tham gia kháng chiến.
Đối tượng và điều kiện hưởng chính sách
Theo Điều 1, Nghị định áp dụng đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến từ ngày 26/3/1965 đến ngày 30/4/1975 tại các tỉnh từ Quảng Trị đến Cà Mau. Đây là lực lượng hoạt động không tập trung tại cơ sở, trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ phục vụ kháng chiến, hỗ trợ lực lượng vũ trang và các tổ chức cách mạng trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Tuy nhiên, không phải tất cả những người từng tham gia lực lượng này đều thuộc diện được hưởng chính sách. Điều 2 quy định các trường hợp không áp dụng hoặc không được hưởng một số chế độ, như người đã được giải quyết chế độ liệt sĩ; người từ trần không có thân nhân thuộc diện quy định; người đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn hoặc bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; người xuất cảnh trái phép, định cư bất hợp pháp ở nước ngoài, bị tuyên bố mất tích hoặc thuộc các trường hợp thoái thác nhiệm vụ, đầu hàng, phản bội, chiêu hồi.
Đối với trợ cấp một lần, trợ cấp hằng tháng và trợ cấp mai táng, một số trường hợp đang hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao động, bệnh binh, thương binh, chính sách như thương binh hoặc trợ cấp hằng tháng đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học cũng không thuộc diện áp dụng theo quy định. Người đang công tác tại cơ quan nhà nước hoặc làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng thuộc diện loại trừ. Trường hợp đã được tính thời gian tham gia thanh niên xung phong để giải quyết chính sách theo các quyết định trước đây của Thủ tướng Chính phủ không được hưởng trùng chế độ. Riêng chính sách vay vốn, người đã vay theo Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg không thuộc diện được vay theo Nghị định này.
Theo Điều 3, người đề nghị hưởng chính sách phải thuộc diện được huy động theo Nghị quyết Đại hội Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam lần thứ nhất ngày 26/3/1965 và tham gia tổ chức thanh niên xung phong cơ sở do tổ chức Đoàn hoặc chính quyền cách mạng thành lập.
Độ tuổi tham gia thông thường từ 16 đến 30 tuổi. Trường hợp đặc biệt, người dưới 16 tuổi có sức khỏe tốt, tự nguyện và được đơn vị chấp thuận vẫn có thể được xem xét, nhưng không dưới 14 tuổi. Người tham gia phải hoạt động tại cơ sở như xã, ấp, liên xã hoặc liên huyện trong thời gian quy định, theo phương thức không tập trung.
Các nhiệm vụ được xem xét gồm giao liên, dẫn đường, tham gia diệt ác ôn, chống tề, địch vận; bảo vệ, chăm sóc cán bộ cách mạng; tải thương, tiếp đạn; vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men, tài liệu; xây dựng ấp, xã chiến đấu, chiến hào, đường phục vụ kháng chiến và thực hiện nhiệm vụ khác do tổ chức cách mạng phân công.
Các chế độ trợ cấp và hỗ trợ vay vốn
Về trợ cấp một lần, Điều 4 quy định mức hưởng căn cứ vào thời gian thực tế tham gia thanh niên xung phong cơ sở. Trường hợp tham gia nhiều đợt hoặc có thời gian gián đoạn được cộng dồn để tính hưởng.
Người có thời gian tham gia từ đủ hai năm trở xuống được trợ cấp 2,5 triệu đồng. Nếu thời gian tham gia trên hai năm, từ năm thứ ba trở đi, mỗi năm được cộng thêm 800.000 đồng. Tháng lẻ từ đủ sáu tháng trở lên được tính tròn một năm; dưới sáu tháng được tính bằng nửa năm. Trường hợp có giấy tờ gốc hoặc giấy tờ liên quan theo quy định nhưng không thể hiện cụ thể thời gian tham gia kháng chiến, mức trợ cấp một lần là 2,5 triệu đồng. Đối với người đã từ trần trước ngày Nghị định có hiệu lực, thân nhân được hưởng trợ cấp một lần 3,6 triệu đồng theo quy định.
Bên cạnh đó, thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động, sống cô đơn, không nơi nương tựa được hưởng trợ cấp hằng tháng 540.000 đồng. Mức trợ cấp được điều chỉnh tương ứng khi Chính phủ điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến theo Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011.
Đối với trợ cấp mai táng, khi người thuộc diện chính sách từ trần, người trực tiếp lo mai táng được hưởng trợ cấp theo mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Trường hợp người từ trần sau ngày Nghị định có hiệu lực nhưng chưa được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hằng tháng theo Nghị định thì người lo mai táng vẫn được xem xét hưởng chế độ theo quy định.
Ngoài các khoản trợ cấp, Điều 7 quy định chính sách hỗ trợ vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống. Người vay phải được UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú xác nhận thuộc đối tượng được vay. Mức vay, lãi suất, thời hạn, phương thức cho vay và các điều kiện liên quan được áp dụng tương tự chương trình cho vay hộ nghèo trong từng thời kỳ. Việc xử lý nợ rủi ro thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
Các chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965–1975 thể hiện sự tri ân của Nhà nước đối với những đóng góp của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Để bảo đảm quyền lợi, người đề nghị hưởng chính sách cần đối chiếu quy định pháp luật hiện hành, các văn bản sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn liên quan, đồng thời chuẩn bị hồ sơ chứng minh quá trình tham gia, đáp ứng đầy đủ điều kiện và thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định.