![]() |
| Tốc độ già hóa dân số đang đặt ra yêu cầu chuẩn bị về thị trường lao động, an sinh, y tế, chăm sóc dài hạn cùng các dịch vụ xã hội |
Việt Nam hiện có khoảng 16,5 triệu người cao tuổi, tương đương 16% dân số. Dự báo đến năm 2036, tỷ lệ người cao tuổi sẽ lên khoảng 20%, đưa Việt Nam bước vào giai đoạn dân số già. Tốc độ chuyển đổi nhanh đang đặt ra yêu cầu chuẩn bị sớm về thị trường lao động, an sinh, y tế, chăm sóc dài hạn cùng các dịch vụ xã hội.
Một điểm đáng chú ý nằm ở khoảng cách giữa tuổi thọ với số năm sống khỏe. Tuổi thọ trung bình của người Việt đã đạt 74,7 tuổi, song số năm sống khỏe mạnh mới ở mức 65,4 năm. Khoảng cách gần một thập kỷ cho thấy kéo dài tuổi thọ cần song hành với nâng chất lượng sống, khả năng tự chủ, sức khỏe, thu nhập của người cao tuổi.
Già hóa cũng đang hiện diện rõ trên thị trường lao động. Theo số liệu được ILO dẫn lại, năm 2024 Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người ở độ tuổi 65 trở lên vẫn làm việc. Trong vòng một thập kỷ tới, cứ hơn 5 người Việt Nam sẽ có một người trên 60 tuổi. Quy mô ấy đặt ra câu hỏi lớn về chất lượng công việc dành cho lao động lớn tuổi.
Thay vì nhìn người cao tuổi chủ yếu qua nhu cầu chăm sóc, cách tiếp cận mới hướng tới khả năng tiếp tục tham gia đời sống kinh tế nếu họ có nhu cầu, đủ sức khỏe. Kinh nghiệm nghề nghiệp, kỹ năng tích lũy, vốn hiểu biết xã hội của nhóm này có thể tiếp tục tạo giá trị khi thị trường lao động thiết kế được những vị trí phù hợp với tuổi tác, sức khỏe, năng lực.
Định hướng ấy đã được cụ thể hóa trong Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Giai đoạn 2025-2030, Việt Nam đặt mục tiêu ít nhất 50% người cao tuổi có nhu cầu, khả năng lao động có việc làm; ít nhất 100.000 người được hỗ trợ hướng nghiệp, đào tạo chuyển đổi nghề; 100.000 hộ có người cao tuổi đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh.
Việc làm dành cho người cao tuổi cần hướng tới những công việc phù hợp, có thu nhập ổn định và được bảo đảm các quyền lợi cần thiết. Yêu cầu đặt ra là tạo ra “không gian đóng góp” phù hợp, nơi yếu tố tuổi tác được tính đến trong thiết kế công việc, đào tạo kỹ năng, tổ chức thời gian lao động, bảo đảm an toàn nghề nghiệp, tiếp cận an sinh.
Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam, nhấn mạnh rằng khi con người sống lâu hơn, làm việc lâu hơn, người lao động cao tuổi cần được tiếp cận việc làm thỏa đáng, có cơ hội cập nhật kỹ năng, được bảo đảm an sinh xã hội đầy đủ. Đây càng là yêu cầu cấp thiết trước những thay đổi do số hóa, trí tuệ nhân tạo, hội nhập kinh tế, chuyển đổi xanh tạo ra.
Kéo dài cơ hội làm việc mới giải quyết một phần bài toán. Một xã hội già hóa bền vững còn cần hệ thống an sinh đủ rộng để người cao tuổi có nguồn thu nhập ổn định khi khả năng lao động suy giảm. Lương hưu, bảo hiểm xã hội (BHXH), trợ cấp hưu trí xã hội, bảo hiểm y tế (BHYT) cùng dịch vụ chăm sóc trở thành những lớp bảo vệ có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Đáng chú ý, hiện nay diện bao phủ trợ cấp hưu trí xã hội đã được mở rộng đáng kể. Đến tháng 7/2026, cả nước có khoảng 2,5 triệu người hưởng chính sách. Kể từ ngày 5/10/2026, mức trợ cấp hưu trí xã hội được nâng từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/người/tháng, tương ứng mức tăng 8%.
Đối tượng hưởng gồm công dân Việt Nam đủ 75 tuổi trở lên chưa hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng hoặc đang hưởng ở mức thấp hơn mức trợ cấp hưu trí xã hội, đáp ứng điều kiện theo quy định. Nhóm đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo cũng thuộc diện hưởng khi đáp ứng các điều kiện liên quan.
Mở rộng tầng an sinh này có ý nghĩa trong bối cảnh một bộ phận người cao tuổi chưa có lương hưu. Tuy nhiên, bài toán dài hạn vẫn là mở rộng diện bao phủ BHXH khi người lao động còn trong độ tuổi làm việc, qua đó tăng số người bước vào tuổi già với nguồn thu nhập chủ động, ổn định, giảm sức ép lên trợ giúp xã hội cùng ngân sách nhà nước.
Chiến lược quốc gia cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 có 100% người cao tuổi sở hữu thẻ BHYT; ít nhất 90% được chăm sóc sức khỏe ban đầu kịp thời, khám sức khỏe định kỳ, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe. Ít nhất 50% bệnh viện đủ điều kiện theo Chiến lược sẽ bố trí buồng khám riêng, giường điều trị nội trú dành cho người cao tuổi.
Nhu cầu ấy sẽ tạo ra một thị trường dịch vụ rất lớn. Số liệu của cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Y tế cho thấy mạng lưới hiện có 218 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, phục vụ khoảng 15.000 người. Quy mô này còn khá khiêm tốn khi đặt cạnh hơn 16 triệu người cao tuổi, đặc biệt trước nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ tăng nhanh trong những năm tới.
Già hóa dân số cũng mở ra một không gian kinh tế đáng chú ý: kinh tế bạc. Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhà ở, dinh dưỡng, tài chính, bảo hiểm, du lịch, công nghệ hỗ trợ, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn sẽ gia tăng theo quy mô người cao tuổi. Đây có thể trở thành thị trường mới cho doanh nghiệp, đồng thời tạo thêm nhiều loại hình việc làm.
Người cao tuổi cũng có thể tham gia chính nền kinh tế chăm sóc ấy. Với kinh nghiệm sống, kỹ năng nghề nghiệp, sự am hiểu cộng đồng, họ có khả năng trở thành cố vấn, người hỗ trợ đồng đẳng hoặc cung cấp một số dịch vụ dựa vào cộng đồng. ILO lưu ý các công việc chăm sóc cần đáp ứng tiêu chuẩn việc làm thỏa đáng, đi kèm đào tạo phù hợp, tiếp cận an sinh xã hội.
Định hướng phát huy nguồn lực người cao tuổi được củng cố thêm khi Luật Dân số số 113/2025/QH15 có hiệu lực ngày 1/7/2026. Khung chính sách mới đặt vấn đề hỗ trợ người cao tuổi trong lao động, việc làm, an sinh xã hội, khởi nghiệp, phát triển kinh tế, chuyển đổi số, tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy sự tham gia chủ động của nhóm dân số này.
Ngày 3/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1702/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế về người cao tuổi giai đoạn 2026-2031”. Đề án hướng tới tận dụng nguồn lực, tri thức, kinh nghiệm, công nghệ, mô hình quốc tế nhằm nâng cao năng lực trong nước, thích ứng với già hóa, giảm áp lực an sinh, sức ép thiếu hụt lao động, từng bước hình thành nền tảng kinh tế bạc.
Một hướng đi quan trọng khác là đầu tư cho kỹ năng. Trong nền kinh tế số, nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp vẫn có giá trị lớn, song cách thức thực hiện công việc đang thay đổi nhanh. Đào tạo lại, nâng kỹ năng số, tạo cơ hội học tập suốt đời có thể giúp lao động cao tuổi thích ứng tốt hơn, kéo dài thời gian làm việc theo nhu cầu, giảm nguy cơ bị đẩy ra ngoài thị trường lao động.
Bài toán già hóa dân số, do đó, cần được giải đồng thời trên ba trụ cột gồm: tạo cơ hội việc làm phù hợp, xây dựng hệ thống an sinh đủ rộng, phát triển mạng lưới chăm sóc đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn. Ba trụ cột này hỗ trợ lẫn nhau, giúp người cao tuổi duy trì khả năng độc lập về kinh tế, được bảo vệ trước rủi ro, tiếp tục tham gia đời sống xã hội.
Việt Nam còn khoảng một thập kỷ trước dấu mốc dự báo bước vào giai đoạn dân số già. Khoảng thời gian chuẩn bị đang thu hẹp nhanh. Nếu chính sách việc làm, kỹ năng, BHXH, y tế, chăm sóc dài hạn, kinh tế bạc được xây dựng đồng bộ ngay hôm nay, tuổi thọ cao hơn có thể đi cùng chất lượng sống tốt hơn, đồng thời mở ra một nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế.