Thông tư 09/2026/TT-BTC quy định về tạo lập sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử đặt ra nguyên tắc quản lý an sinh dựa trên mã số BHXH duy nhất. Trên nền tảng ấy, sổ BHXH và thẻ BHYT điện tử được tạo lập trực tiếp từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, vận hành như một “hồ sơ an sinh số” xuyên suốt vòng đời người tham gia.
Thay vì cầm theo giấy tờ, người dân sử dụng sổ, thẻ điện tử được tích hợp đồng bộ trên VNeID mức độ 2, ứng dụng VssID và kho dữ liệu điện tử cá nhân. Dữ liệu được cập nhật tập trung, liên thông, hạn chế tối đa sai lệch và trùng lặp thông tin.
Đáng chú ý, sổ BHXH và thẻ BHYT điện tử không mang tính “thay thế tạm thời”, mà được công nhận giá trị sử dụng đầy đủ trong các giao dịch an sinh, từ khám, chữa bệnh đến giải quyết chế độ BHXH, BHYT.
Để hệ thống vận hành thông suốt, việc triển khai được thiết kế theo hướng phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể. Người tham gia và đơn vị sử dụng lao động thực hiện kê khai, giao dịch bằng phương thức điện tử; cơ quan BHXH bảo đảm hạ tầng công nghệ an toàn, tiếp nhận - xử lý hồ sơ và trả kết quả đúng hạn qua kho dữ liệu điện tử hoặc email. Các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT được yêu cầu bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, tổ chức tra cứu, xác thực thẻ BHYT điện tử trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, không phát sinh yêu cầu xuất trình thẻ giấy.
![]() |
Cán bộ BHXH cơ sở rà soát hồ sơ khám chữa bệnh trên hệ thống phần mềm Giám định BHYT. |
Tại Quảng Ngãi, nền tảng dữ liệu cho bước chuyển này đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Tính đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 1.728.837 người tham gia bảo hiểm đã được đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đạt tỷ lệ 99,8%; toàn bộ 335/335 cơ sở khám chữa bệnh BHYT trên địa bàn tỉnh đã triển khai tra cứu bằng căn cước công dân gắn chip, với hơn 7 triệu lượt tra cứu, trong đó hơn 6,3 triệu lượt thành công. Những con số này cho thấy hạ tầng kỹ thuật không còn là điểm nghẽn, mà đã sẵn sàng cho giai đoạn quản lý hoàn toàn bằng dữ liệu số.
Ông Trịnh Quang Nghĩa - Phó Giám đốc BHXH tỉnh Quảng Ngãi khẳng định: “Việc sử dụng sổ BHXH và thẻ BHYT điện tử không chỉ là thay đổi hình thức quản lý, mà là thay đổi cách phục vụ. Khi dữ liệu được chuẩn hóa theo mã số BHXH duy nhất, mọi giao dịch an sinh đều được xử lý nhanh, chính xác và minh bạch hơn, giảm tối đa phiền hà cho người dân.”.
Tính đến cuối năm 2025, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 193.882 người tham gia BHXH bắt buộc, 46.915 người tham gia BHXH tự nguyện, 178.436 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hơn 1,76 triệu người tham gia BHYT. Với quy mô đó, mỗi năm có hàng triệu lượt giao dịch, chi trả, quyết toán; riêng trong năm 2025 tổng số thu đạt hơn 6.905 tỷ đồng và chi trả BHXH, bảo hiểm thất nghiệp trên 4.287 tỷ đồng, chi phí khám chữa bệnh BHYT ước tính khoảng 1.453 tỷ đồng. Khi toàn bộ quá trình đóng - hưởng - chi trả được quản lý trên nền tảng số thống nhất, tính minh bạch được củng cố, sai lệch dữ liệu được hạn chế, chi phí hành chính được tiết giảm và an toàn quỹ được bảo đảm tốt hơn.
Với sổ BHXH giấy chưa giải quyết chế độ, dữ liệu tiếp tục được cập nhật đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm quyền lợi người lao động không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển tiếp.
Với người tham gia, thay đổi lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà ở trải nghiệm. Khi đi khám, chữa bệnh BHYT, thẻ điện tử trên điện thoại là đủ; khi giải quyết chế độ BHXH, BHYT, dữ liệu số trở thành căn cứ chính, chấm dứt nỗi lo mất sổ, thẻ hay phải mang theo giấy tờ như trước.
Anh Nguyễn Hồng Vỹ (42 tuổi), công nhân gia công cơ khí tự do đang làm việc tại Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), chia sẻ: “Tui làm cơ khí theo công trình, rày đây mai đó suốt. Hồi trước mỗi lần dọn chỗ ở, điều tui lo nhất là bảo quản, cất giữ sổ BHXH với thẻ BHYT cùng các giấy tờ cá nhân khác; giờ có hết trên điện thoại rồi, cần là mở ra có liền, tui yên tâm hơn nhiều.”.
Làm công việc có tính chất di chuyển thường xuyên, anh Nguyễn Hữu Trí (sinh năm 1984, xã Vạn Tường, Quảng Ngãi) - quản lý dịch vụ giống cây trồng công nghệ cao - cũng cho biết: “Công việc của tôi đi nhiều nơi, có khi lên vùng cao cả tuần. Có sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử thì chỉ cần điện thoại có mạng là kiểm tra được quá trình đóng, quyền lợi của mình. Không còn cảnh lục tìm giấy tờ mỗi lần cần làm thủ tục.”.
Câu chuyện của anh Vỹ và anh Trí cho thấy, chuyển đổi số an sinh không dừng ở cải tiến quản lý, mà đang đi thẳng vào đời sống, gỡ từng nút thắt cho những nhóm lao động vốn chịu nhiều thiệt thòi trong tiếp cận chính sách an sinh. Quá trình tham gia, việc đóng - hưởng và điều chỉnh thông tin cá nhân được cập nhật theo thời gian thực, giúp người dân chủ động theo dõi quyền lợi của mình.
Khi chiếc điện thoại thông minh trở thành “ví an sinh” của mỗi công dân, an sinh xã hội rời khỏi thủ tục nặng nề để bước vào không gian dịch vụ công hiện đại, minh bạch, dễ tiếp cận. Một tư duy quản trị mới đang được xác lập - vì quyền lợi thiết thực của người dân.