![]() |
| Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chuyển mạnh sang phòng ngừa mất việc. |
Giữ việc trước khi người lao động rơi vào thất nghiệp
Sáu tháng đầu năm 2026, thị trường lao động ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Cả nước có 373.135 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2025. Số người có quyết định hưởng trợ cấp là 340.577 người, giảm 1,3%. Đằng sau những con số ấy, áp lực mất việc vẫn hiện hữu khi thị trường liên tục biến động.
Riêng tháng 6/2026, cả nước tiếp nhận 70.045 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 35,4% so với tháng trước và tăng 25,8% so với cùng kỳ. Có 68.585 người được quyết định hưởng trợ cấp, tăng 54% so với tháng 5. Diễn biến này cho thấy thị trường lao động có thể thay đổi nhanh, đặt ra yêu cầu phòng ngừa thất nghiệp từ sớm.
Điểm đáng chú ý là vai trò của BHTN đang dịch chuyển rõ hơn từ hỗ trợ thu nhập sang hỗ trợ người lao động duy trì hoặc tìm kiếm việc làm. Trong nửa đầu năm, 1.136.027 lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm, tăng 29,8% so với cùng kỳ. Cùng thời gian, 13.178 người được hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, tăng 50,8%.
![]() |
| Thiết kế có sự hỗ trợ từ AI. |
Với người lao động, một khoản trợ cấp có thể giải quyết khó khăn trước mắt, song một công việc phù hợp mới tạo ra thu nhập bền vững. Chị Vũ Thị Mười, từng làm việc tại một công ty may mặc ở Hải Phòng, nghỉ việc để lên Hà Nội chăm cháu. Trong thời gian chưa thể đi làm trở lại, trợ cấp thất nghiệp trở thành nguồn hỗ trợ giúp chị trang trải cuộc sống.
Điều chị Mười quan tâm hơn là cơ hội trở lại thị trường lao động. “Khoản trợ cấp giúp tôi đỡ khó khăn trong thời gian chưa có việc. Tuy nhiên, tôi mong được giới thiệu những công việc phù hợp, có thể chủ động thời gian để vừa đi làm vừa lo cho gia đình. Có việc ổn định vẫn là điều quan trọng nhất”, chị Mười chia sẻ về mong muốn sau thời gian gián đoạn việc làm.
Còn anh Nguyễn Văn Hùng, một lao động từng làm việc trong lĩnh vực sản xuất, cho rằng đào tạo lại sẽ thiết thực hơn nếu bám sát nhu cầu tuyển dụng. “Công nghệ trong nhà máy thay đổi rất nhanh. Người lao động như chúng tôi sợ nhất là kỹ năng cũ không còn phù hợp. Nếu được học nghề, nâng kỹ năng ngay khi doanh nghiệp còn đang duy trì sản xuất thì cơ hội giữ việc sẽ cao hơn”, anh Hùng nói.
Mong muốn ấy phản ánh một vấn đề cốt lõi: chính sách hiệu quả nhất là can thiệp trước khi quan hệ lao động bị đứt gãy. Khi người lao động đã mất việc, Nhà nước phải hỗ trợ thu nhập, tư vấn và kết nối việc làm mới. Nếu nguồn lực từ quỹ BHTN được sử dụng sớm để nâng kỹ năng, doanh nghiệp có thể giữ người, người lao động tránh được khoảng trống việc làm.
Tiếp sức doanh nghiệp để người lao động không phải rời dây chuyền
Luật Việc làm năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã tạo cơ sở pháp lý rõ hơn cho cách tiếp cận này. Theo ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng BHTN, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), Luật bổ sung chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nhằm duy trì việc làm cho người lao động tham gia BHTN.
Doanh nghiệp có thể được hỗ trợ khi việc làm của nhiều lao động bị ảnh hưởng hoặc có nguy cơ bị ảnh hưởng do thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm. Chính sách cũng áp dụng với trường hợp doanh nghiệp phải di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều kiện đặt ra là người sử dụng lao động đã đóng đủ BHTN từ 12 tháng trở lên trong 24 tháng tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ, đồng thời có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm. Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ tối đa 1 triệu đồng/người/tháng, thời gian hỗ trợ tối đa 6 tháng.
Khoản hỗ trợ có thể chưa lớn nếu đặt cạnh toàn bộ chi phí đào tạo, song ý nghĩa nằm ở cơ chế chia sẻ chi phí khi doanh nghiệp đứng trước lựa chọn giữ người hay cắt giảm lao động. Thay vì chờ công nhân mất việc rồi chi trợ cấp, quỹ BHTN có thể tham gia sớm hơn, tạo thêm dư địa để doanh nghiệp đào tạo lại nhân sự, điều chuyển vị trí và duy trì sản xuất.
“Quy định mới giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực, tạo điều kiện để người lao động thích ứng với yêu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khoa học, công nghệ phát triển nhanh. Qua đó, nguy cơ cắt giảm lao động khi doanh nghiệp gặp khó khăn có thể được hạn chế”, ông Trần Tuấn Tú đánh giá.
Theo ông Tú, Luật Việc làm năm 2025 cũng tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ quyết định các biện pháp hỗ trợ phù hợp từ quỹ BHTN khi phát sinh những tình huống bất khả kháng theo quy định. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là quản lý, sử dụng quỹ đúng mục đích, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, đồng thời bảo đảm khả năng chi trả các chế độ trong dài hạn.
Cùng quan điểm, chuyên gia lao động, việc làm Lê Quang Trung cho rằng đầu tư cho đào tạo kỹ năng chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng thích ứng của người lao động. Chính sách BHTN vì thế cần hướng mạnh hơn tới giữ người lao động ở lại doanh nghiệp, hạn chế đứt gãy việc làm và giảm những tác động tiêu cực đối với thị trường lao động, xã hội.
Vấn đề tiếp theo là biến chính sách thành cơ hội thực sự cho doanh nghiệp và người lao động. Đào tạo cần xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng, thay đổi công nghệ và vị trí việc làm cụ thể, tránh đào tạo hình thức. Hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm cũng cần kết nối chặt với doanh nghiệp để xác định kỹ năng thị trường đang thiếu, từ đó đưa nguồn lực hỗ trợ đến đúng người, đúng thời điểm.
Cùng với đó, chuyển đổi số trong thực hiện BHTN cần được đẩy nhanh. Cơ sở dữ liệu lao động, việc làm và BHTN phải được kết nối, chia sẻ hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương. Dữ liệu đầy đủ sẽ giúp nhận diện sớm biến động việc làm, rút ngắn thủ tục, hạn chế trục lợi và hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra giải pháp trước khi thất nghiệp gia tăng.
Từ một chính sách chủ yếu bù đắp thu nhập sau khi người lao động mất việc, BHTN đang được đặt vào vị trí chủ động hơn trong thị trường lao động. Đích đến cần hướng tới là giữ được việc làm khi còn có thể, nâng kỹ năng khi công việc thay đổi và kết nối việc mới khi thất nghiệp xảy ra. Khi đó, quỹ BHTN thực sự trở thành nguồn lực phòng ngừa rủi ro việc làm.