![]() |
| Danh mục 58 bệnh, tình trạng bệnh lý hiểm nghèo làm căn cứ thực hiện chế độ đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu. Ảnh có sự hỗ trợ của AI |
Ngày 30/9/2026, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 37/2026/TT-BYT quy định Danh mục bệnh hiểm nghèo làm cơ sở thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu theo Nghị định số 343/2025/NĐ-CP. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/9/2026, góp phần cụ thể hóa căn cứ xác định đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ khi mắc bệnh hiểm nghèo.
Theo Điều 1 Thông tư số 37/2026/TT-BYT, Danh mục bệnh hiểm nghèo tại Phụ lục ban hành kèm theo được sử dụng làm cơ sở thực hiện chế độ, chính sách đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 và khoản 3 Điều 11 Nghị định số 343/2025/NĐ-CP. Danh mục gồm 58 mục bệnh và tình trạng bệnh lý, bao quát nhiều nhóm bệnh khác nhau như ung thư, bệnh về máu, bệnh thần kinh, tim mạch, gan, thận mạn tính, hô hấp, cơ xương khớp, di chứng bệnh mạch máu não và suy đa tạng. Đây là những bệnh lý có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, khả năng sinh hoạt và nhu cầu chăm sóc của người mắc bệnh.
Việc ban hành danh mục nhằm xác định rõ căn cứ chuyên môn để xem xét, giải quyết chế độ, chính sách đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo. Danh mục không chỉ xác định tên bệnh mà còn gắn với mã bệnh và các điều kiện cụ thể tương ứng theo Phụ lục của Thông tư.
Đáng chú ý, một số bệnh phải đáp ứng yêu cầu về giai đoạn tiến triển, mức độ tổn thương, biến chứng hoặc tình trạng phụ thuộc vào người chăm sóc. Vì vậy, việc chẩn đoán mắc một bệnh có tên trong danh mục chưa đồng nghĩa với việc người bệnh đương nhiên đủ điều kiện hưởng chính sách. Quá trình xác định phải căn cứ đầy đủ vào các tiêu chí được quy định đối với từng bệnh, tình trạng bệnh lý.
Đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu, danh mục này là căn cứ để thực hiện thủ tục khám giám định bệnh hiểm nghèo theo quy định. Kết luận của Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền theo quy định của Bộ Quốc phòng có vai trò quan trọng trong việc xác định điều kiện hưởng chế độ, chính sách.
Theo Điều 5 Nghị định số 343/2025/NĐ-CP, sĩ quan Quân đội nghỉ hưu mắc một trong các bệnh thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định được khám giám định bệnh hiểm nghèo. Trường hợp được Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận mắc bệnh hiểm nghèo, người bệnh được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định.
Cụ thể, người đủ điều kiện được hỗ trợ hằng quý bằng 2 lần mức lương cơ sở. Thời điểm hưởng được tính từ quý mà Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo.
Bên cạnh khoản hỗ trợ định kỳ, người bệnh còn được bảo đảm tiền ăn bệnh lý chênh lệch so với tiền ăn cơ bản bộ binh khi điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài Quân đội, theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ.
Đối với trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Quân đội, kinh phí được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chi trả. Nếu điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài Quân đội, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội hoặc Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh nơi sĩ quan nghỉ hưu thường trú thực hiện thanh toán trực tiếp theo số ngày điều trị thực tế được xác nhận tại giấy ra viện.
Nghị định số 343/2025/NĐ-CP cũng quy định cụ thể đối với một số trường hợp đặc biệt. Theo đó, nếu sĩ quan trước khi nghỉ hưu đã được cấp có thẩm quyền công nhận mắc bệnh hiểm nghèo thì khi nghỉ hưu và hưởng lương hưu hằng tháng, người đó được xem xét hưởng khoản hỗ trợ hằng quý và các chính sách liên quan theo quy định. Thời điểm hỗ trợ được tính từ quý bắt đầu hưởng lương hưu, với mức hỗ trợ bằng mức hưởng của cả quý đó.
Trường hợp sĩ quan nghỉ hưu đã được Hội đồng giám định y khoa khám, kết luận mắc bệnh hiểm nghèo nhưng chưa được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định hưởng chế độ hỗ trợ mà từ trần, thân nhân được hỗ trợ một lần bằng 2 lần mức lương cơ sở theo quy định.
Đối với người đang hưởng chính sách hỗ trợ bệnh hiểm nghèo, việc tiếp tục hưởng còn phụ thuộc các điều kiện quy định tại Nghị định số 343/2025/NĐ-CP. Trong những trường hợp thuộc diện quy định, như định cư ở nước ngoài, từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý, chế độ hỗ trợ có thể chấm dứt từ quý tiếp theo theo quy định.
Việc triển khai Thông tư số 37/2026/TT-BYT đòi hỏi các cơ quan, đơn vị liên quan và người có nhu cầu hưởng chính sách đối chiếu chính xác tên bệnh, mã bệnh cùng các điều kiện trong Phụ lục. Đồng thời, người bệnh cần thực hiện thủ tục khám giám định theo đúng thẩm quyền để bảo đảm việc xác định đối tượng và giải quyết chế độ được thực hiện thống nhất, đúng quy định pháp luật.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 30/9/2026. Việc xác định rõ danh mục bệnh hiểm nghèo là cơ sở quan trọng để thực hiện chính sách hỗ trợ, góp phần chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi cho sĩ quan Quân đội nghỉ hưu khi không may mắc bệnh hiểm nghèo.
| Một số nhóm bệnh chính trong danh mục 58 bệnh hiểm nghèo Dưới đây là một số nhóm bệnh và điều kiện cụ thể thường gặp trong danh mục: • Bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng: Bệnh HIV (Từ B20 đến B23): Nhiễm HIV trong khi thi hành công vụ có xác nhận của cơ quan, ở giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, suy kiệt, không có khả năng tự chăm sóc. Bệnh lao (A15-A19, B90.0): Thể đa kháng thuốc trở lên. • U ác tính và ung thư: U ác tính (Từ C00 đến C97 và D00 đến D09): Điều kiện áp dụng là bệnh ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn, đang điều trị chăm sóc giảm nhẹ, kèm tình trạng suy kiệt nặng. • Bệnh về máu và miễn dịch: Thiếu máu tan máu mắc phải, các thể suy tủy xương, ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn, suy giảm miễn dịch kết hợp. • Bệnh nội tiết, chuyển hóa: Đái tháo đường có biến chứng nặng (tổn thương đáy mắt giảm thị lực nặng, suy thận giai đoạn IV/V, suy tim giai đoạn III/IV, đột quỵ não...). • Bệnh hệ thần kinh và tâm thần: Viêm não, viêm tủy, Teo cơ do tổn thương tủy sống, Bệnh Parkinson (giai đoạn muộn Hoehn và Yahr giai đoạn IV, V), Xơ cứng rải rác, Động kinh kháng thuốc, Nhược cơ, Liệt nửa người / hai chân / tứ chi, Alzheimer (mất trí nhớ hoàn toàn), và Bệnh tâm thần. • Bệnh về mắt và tai: Mù hai mắt (thị lực mắt tốt nhất dưới 20/400 hoặc thị trường thu hẹp dưới 10 độ), Giảm thính lực hai tai (mỗi tai từ 85% trở lên không hồi phục). • Bệnh tim mạch: Suy tim (giai đoạn III, IV), Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn (giai đoạn nặng, tắc đa nhánh mạch vành trơ với điều trị), Nhồi máu cơ tim cấp và biến chứng nặng, Bệnh lý thuyên tắc và/hoặc huyết động mạch gây hoại tử phải cắt cụt chi. • Bệnh tiêu hóa và gan mật: Suy gan (Child-Pugh C), Xơ gan (giai đoạn mất bù có biến chứng chảy máu tiêu hóa, hội chứng não gan, suy kiệt), Viêm tụy mạn tính tái phát nặng, Tình trạng có lỗ mở hồi tràng, đại tràng vĩnh viễn. • Bệnh thận - tiết niệu: Bệnh thận mạn tính (giai đoạn IV, V), Lọc máu ngoài thận, Hội chứng thận hư thể kháng thuốc. • Bệnh cơ xương khớp và tự miễn: Lupus ban đỏ hệ thống có biến chứng, Viêm cột sống dính khớp, Loãng xương kèm gãy xương bệnh lý gây hạn chế vận động hoặc phải phẫu thuật, Viêm da cơ - viêm đa cơ có tổn thương nội tạng hoặc ung thư kèm theo, Thương tích nặng phải cắt cụt chi hoặc di chứng bỏng nặng. |