![]() |
| Chương trình bàn giao dự án “Dịch vụ cung ứng vải lanh theo công nghệ Nhật Bản”. Ảnh: Trà Giang |
Ngày 2/10, Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP.Hồ Chí Minh) tổ chức lễ tổng kết và bàn giao dự án “Dịch vụ cung ứng vải lanh theo công nghệ Nhật Bản”. Đây là dự án viện trợ không hoàn lại của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thông qua Tập đoàn Watakyu Seimoa, với tổng giá trị hơn 30,5 tỷ đồng.
Sau hơn một năm chính thức vận hành, hệ thống đã xử lý khoảng 72,6 tấn đồ vải qua hơn 3.170 mẻ giặt, đồng thời hỗ trợ xử lý khoảng 2 tấn đồ vải cho Bệnh viện đa khoa Thủ Đức.
Khi nhà giặt trở thành một phần của an toàn bệnh viện
Trong bệnh viện, chăn, ga, quần áo người bệnh, áo phẫu thuật, khăn và các loại đồ vải khác thường được xem là những vật dụng phục vụ hậu cần. Tuy nhiên, phía sau một bộ đồ vải sạch là cả quy trình từ thu gom, phân loại, giặt, khử khuẩn, sấy, là, gấp, lưu trữ đến cung ứng cho từng khoa, phòng.
Nếu các công đoạn này không được kiểm soát chặt chẽ, đồ vải có thể trở thành một trong những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường điều trị và công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.
Tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, quy trình này được tổ chức lại theo hướng tập trung, tự động hóa và kiểm soát xuyên suốt với sự hỗ trợ từ phía Nhật Bản.
Dự án được triển khai với sự phối hợp giữa JICA, Tập đoàn Watakyu Seimoa, Bệnh viện Lê Văn Thịnh, Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh và các cơ quan liên quan. Công trình được xây dựng, lắp đặt từ tháng 11/2024 đến tháng 5/2025 và chính thức vận hành từ ngày 11/6/2025.
Mục tiêu của dự án là cải thiện vệ sinh môi trường bệnh viện, góp phần phòng, chống nhiễm khuẩn và nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh. Sau hơn một năm vận hành, khoảng 72,6 tấn đồ vải đã được xử lý qua hơn 3.170 mẻ giặt. Hệ thống cũng đã hỗ trợ xử lý khoảng 2 tấn đồ vải cho Bệnh viện đa khoa Thủ Đức.
BS.CKII Trần Văn Khanh, Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh, cho biết trước đây công tác giặt ủi của bệnh viện chủ yếu phải thuê đơn vị bên ngoài. Việc phụ thuộc vào đơn vị cung ứng có thời điểm dẫn đến chậm trễ, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đồ vải trong bệnh viện.
Khi hệ thống mới đi vào hoạt động, bệnh viện từng bước chủ động quy trình xử lý đồ vải. Đồ vải được thu gom, phân loại, xử lý và cung ứng theo quy trình riêng, qua đó tăng khả năng kiểm soát trong từng công đoạn.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh hiện có khoảng 560 giường bệnh và 4 phòng mổ, mỗi ngày sử dụng một lượng lớn chăn, ga, quần áo người bệnh và các loại đồ vải phục vụ điều trị. Vì vậy, bảo đảm nguồn đồ vải sạch, được cung ứng đúng thời điểm là một phần trong quá trình duy trì môi trường điều trị an toàn.
![]() |
| Đại diện Nhật Bản hài lòng với nhà giặt y tế đảm bảo các điều kiện. Ảnh: Trà Giang |
Theo BS.CKII Nguyễn Hoài Nam, Phó Giám đốc Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh, đồ vải bệnh viện là lĩnh vực tưởng như thuộc về hậu cần nhưng lại liên quan trực tiếp đến kiểm soát nhiễm khuẩn, an toàn người bệnh, điều kiện làm việc của nhân viên y tế và chất lượng dịch vụ.
Từ đó, việc đầu tư cho nhà giặt không chỉ là đầu tư máy móc mà còn là chuẩn hóa một khâu trong chuỗi vận hành bệnh viện.
Không chỉ chuyển giao máy móc
Một điểm đáng chú ý của dự án là công nghệ được chuyển giao cùng với quy trình quản lý, tổ chức vận hành và đào tạo nhân lực.
Tập đoàn Watakyu Seimoa là đơn vị cung cấp dịch vụ tích hợp cho các bệnh viện, cơ sở y tế tại Nhật Bản, gồm cung ứng đồ vải, giặt, khử khuẩn và sửa chữa. Kinh nghiệm này được đưa vào dự án tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh nhằm xây dựng một quy trình xử lý đồ vải thống nhất, kiểm soát từ khâu đầu vào đến khi cung ứng trở lại các khoa, phòng.
Hệ thống tại bệnh viện được đầu tư các thiết bị chuyên dụng phục vụ giặt, sấy, khử khuẩn, là và gấp đồ vải. Một số công đoạn được tự động hóa. Việc quản lý đồ vải cũng được ứng dụng công nghệ RFID, qua đó hỗ trợ theo dõi quá trình sử dụng và quản lý vòng đời sản phẩm.
Cùng với thiết bị, quy trình vận hành chú trọng phân tách đồ bẩn và đồ sạch từ khâu thu gom, xử lý đến lưu trữ và cung ứng. Đây là yêu cầu quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn, bởi đồ vải không chỉ cần được làm sạch mà còn phải được quản lý để hạn chế nguy cơ tái nhiễm hoặc lây nhiễm chéo trong quá trình vận chuyển, lưu trữ và sử dụng.
Theo BS.CKII Trần Văn Khanh, giá trị của dự án không chỉ nằm ở hệ thống máy móc mà còn ở sự thay đổi trong cách nhìn nhận về công tác đồ vải.
Từ một khâu phục vụ hậu cần, dịch vụ đồ vải được đặt trong tổng thể quản lý chất lượng bệnh viện. Một chiếc giường sạch, một bộ đồ vải đúng chuẩn, được cung ứng đúng lúc và bảo đảm an toàn cũng là một phần của chất lượng chăm sóc người bệnh.
“Chất lượng bệnh viện không chỉ thể hiện ở một ca phẫu thuật thành công hay một kỹ thuật chuyên sâu, mà còn thể hiện ở những điều tưởng như rất nhỏ: một chiếc giường sạch, một bộ đồ vải đúng chuẩn, được cung ứng đúng lúc và bảo đảm an toàn cho người bệnh”, BS.CKII Trần Văn Khanh nói.
Theo đó, dịch vụ đồ vải y tế là một phần quan trọng của quản lý chất lượng bệnh viện. Từ thực tế này, quá trình hiện đại hóa bệnh viện không chỉ tập trung vào phòng mổ, khoa cấp cứu hay các hệ thống chẩn đoán, điều trị. Những bộ phận phía sau hoạt động chuyên môn như kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, xử lý chất thải, hậu cần và đồ vải cũng cần được tổ chức theo quy trình chuyên nghiệp.
![]() |
| Chuyên gia Nhật Bản khảo sát các quy trình giặt y tế. Ảnh: Trà Giang |
Bệnh viện hiện đại phải hiện đại từ phòng mổ đến nhà giặt, từ kỹ thuật chuyên sâu đến từng dịch vụ nhỏ nhất dành cho người bệnh. Đây là giá trị được Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong quá trình đánh giá dự án. Bệnh viện không chỉ tiếp nhận thiết bị mà còn tiếp nhận công nghệ, quy trình tổ chức và phương thức quản lý chất lượng.
Từ dự án hợp tác đến khả năng nhân rộng
Dự án tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh được triển khai trong khuôn khổ chương trình của JICA về phổ cập, kiểm chứng và thương mại hóa, hướng đến ứng dụng kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực cung ứng vải lanh cho bệnh viện công lập.
Theo ông Ono Masuo, Tổng Lãnh sự Nhật Bản tại TP.Hồ Chí Minh, Tập đoàn Watakyu Seimoa được JICA giao phối hợp với Bệnh viện Lê Văn Thịnh triển khai dự án, qua đó đưa kinh nghiệm của Nhật Bản vào thực tiễn tại Việt Nam.
Để một dự án từ khâu đề xuất trở thành hệ thống vận hành thực tế, nhiều công đoạn phải được triển khai đồng bộ, từ tiếp nhận viện trợ, chuẩn bị cơ sở hạ tầng, xây dựng và lắp đặt, đào tạo nhân lực đến vận hành, đánh giá và bàn giao.
Sau hơn một năm hoạt động, khối lượng đồ vải được xử lý cho thấy hệ thống đã đi vào vận hành thực tế. Tuy nhiên, với ngành y tế, hiệu quả của mô hình không chỉ được đo bằng số lượng đồ vải đã xử lý mà còn ở khả năng duy trì chất lượng, kiểm soát nhiễm khuẩn, bảo đảm nguồn cung và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Ông Ono Masuo cũng kỳ vọng việc hợp tác không chỉ dừng ở lĩnh vực đồ vải mà có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác trong quản lý bệnh viện, kiểm soát nhiễm khuẩn, logistics y tế, chuyển đổi số, công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Với Bệnh viện Lê Văn Thịnh, giai đoạn vận hành sau bàn giao là thời điểm chuyển những giá trị được chuyển giao thành năng lực thực tế của bệnh viện. Từ duy trì thiết bị, đào tạo nhân viên đến chuẩn hóa từng công đoạn, mục tiêu cuối cùng là bảo đảm đồ vải được xử lý đúng quy trình, cung ứng đúng lúc và an toàn cho người bệnh.
Từ một khâu hậu cần, nhà giặt đang được đặt trong tổng thể vận hành và quản lý chất lượng bệnh viện. Đây cũng là cách tiếp cận cho thấy những yếu tố tưởng như nhỏ trong chăm sóc người bệnh, khi được chuẩn hóa đồng bộ, có thể góp phần tạo nên môi trường điều trị an toàn và chất lượng hơn.