![]() |
| Kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp. |
Đề xuất chức năng kiểm tra chuyên ngành về hưởng BHXH
Cụ thể, về quyền hạn của cơ quan Bảo hiểm xã hội được quy định tại khoản 5, điều 17 luật BHXH năm 2024, có quyền kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện, việc thực hiện hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT); việc đóng, chi trả bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), BHYT. Thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHYT, BHTN.
Từ việc quy định về quyền hạn trên, cơ quan này đề nghị nghiên cứu bổ sung thêm chức năng kiểm tra chuyên ngành “hưởng BHXH”, cụ thể cơ quan BHXH có quyền kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện; việc thực hiện hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; việc đóng, chi trả bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; kiểm tra chuyên ngành về đóng, hưởng BHXH”.
BHXH Việt Nam cho rằng, căn cứ nội hàm về hoạt động kiểm tra chuyên ngành được quy định tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP thì ngoài việc chấp hành pháp luật về đóng BHXH, các cơ quan, đơn vị, cá nhân tham gia BHXH có nghĩa vụ chấp hành pháp luật liên quan đến hưởng các chế độ BHXH, vì vậy trong quá trình quản lý và tổ chức thực hiện ngoài việc kiểm tra chấp hành pháp luật về đóng BHXH, thời gian qua cơ quan BHXH còn thực hiện trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong việc đề nghị và hưởng các chế độ BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động, cụ thể trong giai đoạn 2020 đến 31/5/2025 toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã tổ chức kiểm tra nội dung này tại 34.694 đơn vị, qua kiểm tra thu hồi gần 70 tỷ đồng hưởng các chế độ BHXH không đúng quy định.
Thực tế, thời gian qua, tại một số địa phương có xảy ra tình trạng lạm dụng trục lợi quỹ BHXH thông qua việc sử dụng Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH được mua tại các cơ sở khám chữa bệnh để đề nghị giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản; gửi đóng BHXH (trong khi đó, người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc) để hưởng chế độ thai sản.
Vì vậy, nếu Luật chỉ giao cho BHXH Việt Nam nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đóng thì BHXH Việt Nam không có cơ sở để thực hiện kiểm tra chuyên ngành về hưởng các chế độ BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động dẫn đến nguy cơ lạm dụng, trục lợi quỹ BHXH có thể tăng cao, gây mất an toàn quỹ. Đồng thời, căn cứ quy định tại Điều 16, cơ quan BHXH có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH quản lý sử dụng các quỹ BHXH, nếu thiếu đi nhiệm vụ kiểm tra giám sát việc hưởng dẫn đến việc thiếu mất một công cụ quản lý quỹ BHXH.
Đề nghị xem xét lại điều kiện trợ cấp một lần
Ngoài ra, đối với đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu, BHXH Việt Nam đề nghị bổ sung tại khoản 1 Điều 64 Luật BHXH như sau: “Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm việc với chức danh nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non”.
![]() |
| Cơ quan BHXH đang nỗ lực mỗi ngày để vận động người dân vào lưới an sinh. |
Theo BHXH Việt Nam, việc bổ sung đối tượng có đủ 15 năm trở lên là nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động tại Điều này để thống nhất trong tổ chức thực hiện đối với điều kiện nghỉ hưu có tính chất tương đồng.
Về trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH Việt Nam đề nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định: “…Trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 64 của Luật BHXH mà tiếp tục đóng BHXH thì mức trợ cấp bằng 02 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH quy định tại Điều 72 của Luật này cho mỗi năm đóng cao hơn số năm quy định tại khoản 1 Điều này kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu tương ứng với trường hợp nghỉ hưu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 64 của Luật này.”
BHXH Việt Nam lý giải, Chủ trương khuyến khích người lao động tiếp tục làm việc, đóng BHXH sau khi đủ điều kiện nghỉ hưu được cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật BHXH quy định việc tính mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được áp dụng đối với người nghỉ hưu theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 Luật BHXH dẫn đến nhiều trường hợp đã đủ điều kiện nghỉ hưu do có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nơi có phụ cấp khu vực 0,7 hoặc vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn... hoặc trường hợp người lao động đã có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về tỷ lệ suy giảm khả năng lao động đã đủ điều kiện nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục làm việc (người lao động đủ điều kiện về tuổi nghỉ hưu từ trước khi Nghị định số 135/2020/NĐ-CP có hiệu lực nên thời gian tính mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu dài) nên mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu tăng cao, mặt khác, quy định này dẫn đến việc người lao động tiếp tục đi làm sau khi đủ tuổi hưởng lương hưu (có khi chỉ 01 tháng sau khi đủ điều kiện hưởng) để hưởng các chênh lệch có lợi - một hình thức trục lợi chế độ BHXH ảnh hưởng đến quỹ BHXH; đồng thời không phản ánh đúng bản chất ưu tiên đáp ứng các quy định giảm tuổi nghỉ hưu trong điều kiện đặc biệt trên.