![]() |
| Cần lấp khoảng trống an sinh với lao động nền tảng số. |
Khoảng trống an sinh phía sau những cuốc xe công nghệ
Sự phát triển nhanh của kinh tế số đang tạo ra một lực lượng lao động có cách thức làm việc khác biệt so với mô hình truyền thống. Tài xế công nghệ, người giao hàng có thể chủ động thời gian, sử dụng phương tiện cá nhân, nhận việc qua ứng dụng. Song phía sau tính linh hoạt ấy là khoảng trống an sinh khi thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào khả năng tiếp tục làm việc.
Quy mô nhóm lao động này ngày càng đáng chú ý. Đại diện Liên đoàn Lao động TP. Hồ Chí Minh cho biết thành phố có khoảng 400.000 tài xế hoạt động trên các nền tảng giao đồ ăn, giao hàng; nếu tính trên phạm vi cả nước, lực lượng này có thể lên tới hàng triệu người. Khảo sát 141 tài xế cho thấy 35% làm việc trên 10 giờ mỗi ngày.
Đặc thù nghề nghiệp khiến tài xế thường xuyên đối mặt nguy cơ tai nạn, thời tiết khắc nghiệt, khói bụi, áp lực giao hàng. Khi phải ngừng chạy xe do ốm đau hoặc tai nạn, nguồn thu có thể bị gián đoạn ngay. Về dài hạn, thiếu quá trình tích lũy BHXH cũng đồng nghĩa nhiều lao động có nguy cơ thiếu điểm tựa thu nhập khi tuổi cao.
TS.LS. Đặng Văn Cường (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) cho rằng cần nhìn nhận đúng bản chất công việc, mức độ phụ thuộc của người lao động vào nền tảng. Theo ông, tính linh hoạt của việc làm chưa đồng nghĩa người lao động đủ khả năng tự bảo đảm an toàn tài chính trước mọi rủi ro trong cuộc sống.
Điểm khó nằm ở ranh giới giữa “đối tác độc lập” với người lao động chịu sự chi phối đáng kể của nền tảng. Một tài xế có thể tự quyết định thời gian bật ứng dụng, song giá dịch vụ, phân phối đơn hàng, xếp hạng, thưởng, khấu trừ hoặc quyền duy trì tài khoản lại chịu tác động lớn bởi cơ chế quản lý, thuật toán của doanh nghiệp.
Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cũng lưu ý khái niệm “người làm việc trên nền tảng số” có phạm vi rộng. Theo đại biểu, cần phân biệt người thực chất có quan hệ lao động với người cung cấp dịch vụ độc lập; đồng thời tính đến trường hợp một người chạy nhiều nền tảng, làm bán thời gian hoặc có thu nhập biến động.
Đây cũng là lý do việc xác định đối tượng cần dựa trên bản chất quan hệ thực tế thay cho tên gọi trên hợp đồng. Một người chạy xe toàn thời gian, nguồn thu chủ yếu phụ thuộc một ứng dụng rõ ràng có mức độ gắn bó khác với người chạy vài giờ mỗi tuần hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc tại một doanh nghiệp khác.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng) đồng tình chủ trương từng bước mở rộng diện bao phủ, song đề nghị làm rõ tiêu chí nhận diện. Theo đại biểu, đối tượng áp dụng, căn cứ xác định thu nhập đóng BHXH, trách nhiệm, mức đóng của doanh nghiệp nền tảng cần được quy định ở tầm luật hoặc xác lập bằng các nguyên tắc khung.
Đại biểu cũng đề nghị thời điểm áp dụng chưa nên sớm hơn năm 2028, tạo khoảng thời gian hoàn thiện pháp luật lao động, việc làm, xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa cơ quan BHXH, cơ quan thuế với các nền tảng số. Trong giai đoạn chuyển tiếp, chính sách hỗ trợ BHXH tự nguyện đối với nhóm lao động này cần tiếp tục được quan tâm.
Trách nhiệm đóng BHXH cần được chia sẻ ra sao?
Nếu xác định tài xế công nghệ thuộc diện BHXH bắt buộc, câu hỏi tiếp theo là ai sẽ đóng, đóng trên căn cứ nào, quyền lợi hưởng tương ứng ra sao. Đây là điểm quyết định khả năng đi vào cuộc sống của chính sách, bởi thu nhập lao động nền tảng thường biến động theo thời gian hoạt động, số chuyến, nhu cầu thị trường, chính sách của từng ứng dụng.
Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách cuối tháng 9/2026, đại biểu Trần Thị Diệu Thuý (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) đề xuất xác định tài xế xe công nghệ thành một nhóm riêng thuộc diện BHXH bắt buộc. Tiêu chí có thể dựa trên số ngày, số giờ hoạt động, số chuyến hoặc giao dịch hoàn thành, mức độ quản lý của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, đại biểu Trần Thị Diệu Thuý đề xuất doanh nghiệp nền tảng cùng đóng BHXH do doanh nghiệp có quyền quyết định nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập, điều kiện hoạt động của tài xế như giá cước, tỷ lệ chiết khấu, phân bổ chuyến, xếp hạng, thưởng phạt, quyền duy trì tài khoản.
Theo hướng này, gánh nặng đóng góp sẽ được phân bổ hợp lý hơn thay vì đặt toàn bộ lên người lao động. Đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế ba bên gồm tài xế, doanh nghiệp nền tảng, Nhà nước; trong đó ngân sách có thể hỗ trợ nhóm thu nhập thấp hoặc hỗ trợ trong giai đoạn đầu chuyển sang diện BHXH bắt buộc.
Quan điểm này có nhiều điểm tương đồng với phân tích của Luật sư Trần Thị Thanh Lam (Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội). Theo bà, nếu Nhà nước mở rộng BHXH bắt buộc với tài xế thực sự làm việc độc lập, trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng cần được quy định cụ thể, gồm thu, khấu trừ, nộp, đối soát, xử lý sai lệch dữ liệu hoặc khoản đóng.
Luật sư Trần Thị Thanh Lam cho rằng có thể nghiên cứu cơ chế đóng góp có sự chia sẻ giữa người lao động với doanh nghiệp nền tảng, dựa trên vai trò kinh tế, mức độ kiểm soát hoạt động, lợi ích doanh nghiệp nhận được qua việc tổ chức, kết nối cung ứng dịch vụ. Đây là kiến nghị chính sách, chưa phải nghĩa vụ chung đang áp dụng cho mọi doanh nghiệp nền tảng.
Trong khi đó, TS.LS. Đặng Văn Cường lưu ý cần tránh áp dụng một mô hình giống nhau cho mọi lao động nền tảng. Người chạy xe toàn thời gian, phụ thuộc phần lớn thu nhập vào một ứng dụng có hoàn cảnh khác người làm thêm vài giờ. Người đã tham gia BHXH tại nơi làm việc chính cũng cần cơ chế xử lý để tránh phát sinh đóng trùng.
Bài toán này cho thấy mở rộng BHXH bắt buộc cần đi kèm một hệ thống dữ liệu đủ khả năng xác định thời gian hoạt động, thu nhập, tình trạng tham gia BHXH của mỗi người. Doanh nghiệp nền tảng có lợi thế về dữ liệu giao dịch, số chuyến, khoản thanh toán nên sẽ giữ vai trò quan trọng trong cung cấp, đối soát thông tin phục vụ quản lý đóng, hưởng.
Mở rộng BHXH bắt buộc tới lao động nền tảng cần đi cùng một cơ chế đủ rõ, đủ linh hoạt để đi vào thực tiễn. Trong đó, ba bài toán then chốt cần được giải quyết là xác định đúng đối tượng tham gia, lựa chọn căn cứ đóng phù hợp với thu nhập biến động, phân định trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp nền tảng. Khi những điểm này được làm rõ, chính sách mới có nền tảng để vận hành hiệu quả, bền vững.