![]() |
| Cần cách đóng và lộ trình tham gia BHXH bắt buộc phù hợp với lao động nền tảng số. |
Khoảng trống an sinh sau mỗi cuốc xe
Mỗi ngày, hàng trăm nghìn tài xế công nghệ, shipper bắt đầu công việc bằng một ứng dụng trên điện thoại. Họ chủ động thời gian, lựa chọn thời điểm bật ứng dụng, nhận chuyến, kết thúc ngày làm việc. Sự linh hoạt ấy tạo cơ hội kiếm sống cho nhiều người, song phía sau mỗi cuốc xe vẫn tồn tại khoảng trống lớn về bảo hiểm, thu nhập khi gặp rủi ro, nguồn sống lúc hết tuổi lao động.
Đây cũng là lý do đề xuất mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc đối với người làm việc trên nền tảng số nhận được sự quan tâm lớn khi Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH ngày 21/10. Dự thảo hướng tới nhóm có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên, thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội từng thời kỳ.
Nhu cầu bảo vệ nhóm lao động này đã hiện hữu khá rõ. Tại TP. Hồ Chí Minh, Liên đoàn Lao động thành phố cho biết có khoảng 400.000 tài xế hoạt động qua các nền tảng giao đồ ăn, giao hàng. Khảo sát 141 tài xế cho thấy 35% làm việc trên 10 giờ mỗi ngày. Để đạt doanh thu khoảng 15 triệu đồng/tháng, nhiều người phải duy trì cường độ lao động cao.
Tài xế thường xuyên di chuyển ngoài đường, đối diện tai nạn giao thông, thời tiết, khói bụi, ngập nước, thời gian làm việc kéo dài. Một ngày nghỉ đồng nghĩa thu nhập giảm. Một tai nạn nghiêm trọng có thể khiến nguồn sống của cả gia đình bị gián đoạn. Trong bối cảnh ấy, nhu cầu về một tầng bảo vệ an sinh trở nên ngày càng rõ nét.
Câu chuyện của bà Lê Thị Tuyết Hoa, một tài xế công nghệ được nêu tại hội thảo về an sinh cho tài xế ở TP. Hồ Chí Minh, cho thấy khoảng trống ấy. Sau 8 năm chạy xe, bà vẫn chưa thuộc diện BHXH bắt buộc. Khi mang thai gần 8 tháng, bà vẫn làm việc 10-12 giờ mỗi ngày, có thời điểm thời gian ngủ khoảng 4 giờ.
Từ phía người lao động, nhu cầu tham gia an sinh thực tế đã xuất hiện. Nhiều tài xế chia sẻ mong muốn được tiếp cận BHXH, BHYT phù hợp, nhất là khi nghề chạy xe đã trở thành sinh kế chính thay cho công việc thời vụ. Điều họ quan tâm tiếp theo là mức đóng bao nhiêu, nền tảng chia sẻ ra sao, thu nhập nào được dùng để tính đóng.
Những câu hỏi ấy cho thấy tranh luận về BHXH bắt buộc với lao động nền tảng cần vượt ra ngoài lựa chọn “tham gia hay đứng ngoài”. Vấn đề cốt lõi nằm ở thiết kế cơ chế. Nếu toàn bộ nghĩa vụ tài chính dồn lên tài xế, chính sách an sinh có nguy cơ trở thành áp lực lên thu nhập hiện tại. Nếu doanh nghiệp nền tảng đứng ngoài, trách nhiệm giữa các chủ thể cũng khó đạt sự cân bằng.
Chủ trương hợp lý, bài toán nằm ở cách đóng
Điểm đáng lưu ý trong dự thảo là chính sách chưa được thiết kế theo hướng áp dụng ngay một mức đóng chung cho mọi người làm việc qua nền tảng. Chính phủ đề xuất căn cứ điều kiện phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định đối tượng, thời điểm áp dụng BHXH bắt buộc đối với nhóm lao động này.
Cách tiếp cận thận trọng có cơ sở thực tiễn. Theo đó, “Lao động nền tảng số” là khái niệm rất rộng. Một tài xế chạy xe 10 giờ mỗi ngày, coi đây là nguồn thu nhập chính có đặc điểm khác một nhân viên văn phòng tranh thủ giao hàng vài giờ cuối tuần. Người bán hàng trên sàn thương mại điện tử cũng có cấu trúc thu nhập khác tài xế gọi xe hay người làm việc tự do trực tuyến.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng lưu ý phạm vi “người làm việc trên nền tảng số” hiện còn rộng, trong khi ba câu hỏi quan trọng cần được trả lời rõ là chủ thể nào đóng BHXH, căn cứ đóng dựa trên nguồn thu nhập nào, doanh nghiệp nền tảng chịu trách nhiệm tới đâu. Nếu đối tượng chưa được định danh cụ thể, triển khai bắt buộc dễ phát sinh vướng mắc trong thực tế.
![]() |
| Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý làm rõ 3 nội dung. Ảnh AI minh họa. |
Nỗi lo lớn nhất nằm ở thu nhập. Tại phiên thảo luận, đại biểu Hồ Đức Thắng (Đoàn An Giang) dẫn thông tin cho thấy thu nhập của nhiều tài xế công nghệ khoảng 7,5-9 triệu đồng. Người lao động đều mong có lương hưu khi về già, song khoản đóng định kỳ lại tác động trực tiếp tới nguồn tiền trang trải sinh hoạt trước mắt. Đây chính là mâu thuẫn cần được giải quyết trong thiết kế chính sách.
Số người chủ động tham gia BHXH tự nguyện trong nhóm này cũng cho thấy khoảng cách giữa nhu cầu an sinh dài hạn với khả năng dành tiền đóng ở hiện tại. Số liệu được BHXH TP. Hồ Chí Minh dẫn cho thấy cả nước có khoảng 600.000 tài xế công nghệ, song khoảng 700 người tham gia BHXH tự nguyện. Khoảng cách rất lớn này cần được nhìn dưới góc độ hành vi lẫn khả năng tài chính.
Bởi thế, đưa lao động nền tảng vào diện bắt buộc có cơ sở xét trên mục tiêu mở rộng an sinh, song sẽ thiếu sức thuyết phục nếu trách nhiệm đóng chủ yếu đặt lên vai người lao động. Nền tảng tham gia tổ chức công việc, phân phối chuyến, xác định giá cước, xây dựng cơ chế thưởng, đánh giá hiệu suất cũng cần có trách nhiệm tương ứng trong mô hình bảo hiểm dành cho lực lượng tạo ra dịch vụ.
Ông Phạm Mi Sên, Phó Chủ tịch Nghiệp đoàn xe ôm công nghệ Bình Tân, từng chỉ ra rằng dù tài xế được gọi là “đối tác”, quá trình làm việc vẫn chịu tác động của định mức hoạt động, số chuyến, điều kiện nhận thưởng, phân hạng, giá cước cùng các quy tắc của nền tảng. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục làm rõ địa vị pháp lý của tài xế.
Một phương án đã được đặt lên bàn nghị sự là cơ chế ba bên. Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cuối tháng 9, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) đề xuất nghiên cứu mô hình tài xế, doanh nghiệp nền tảng, Nhà nước cùng chia sẻ mức đóng BHXH. Cách tiếp cận này có thể giảm cú sốc thu nhập trong giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế bắt buộc.
Kinh nghiệm khu vực: Bắt buộc nhưng cần có lộ trình
Singapore cung cấp một kinh nghiệm đáng tham khảo. Luật Lao động nền tảng của nước này có hiệu lực đầu năm 2025, xác định khá cụ thể lao động nền tảng thuộc nhóm cung cấp dịch vụ gọi xe hoặc giao hàng theo thỏa thuận với doanh nghiệp nền tảng, đồng thời chịu sự quản lý của nền tảng trong quá trình cung cấp dịch vụ. Người lao động được bảo vệ về CPF, tai nạn nghề nghiệp, quyền đại diện.
Đáng chú ý, Singapore đặt nghĩa vụ lên cả hai phía. Doanh nghiệp nền tảng phải khấu trừ phần đóng của người lao động theo thu nhập phát sinh, đồng thời nộp phần trách nhiệm của doanh nghiệp vào CPF hàng tháng. Với nhóm thuộc diện tăng mức đóng, tỷ lệ được nâng dần qua nhiều năm thay vì chuyển ngay sang mức tương đương lao động thông thường.
Năm 2026, phần đóng của doanh nghiệp nền tảng tại Singapore đối với nhóm trong lộ trình phổ biến ở mức 7%, trong khi phần của người lao động thay đổi theo độ tuổi. Lộ trình tiếp tục tới năm 2029 để tiến tới mức tương ứng 17% của doanh nghiệp nền tảng, 20% của lao động đối với nhóm áp dụng đầy đủ.
Cách xác định thu nhập cũng đáng chú ý. Singapore tính đóng dựa trên thu nhập ròng sau khi trừ một khoản chi phí cố định tùy phương tiện. Tài xế sử dụng ô tô được khấu trừ chi phí ở mức 60% doanh thu gộp; xe máy cùng một số phương tiện khác là 35%; xe đạp hoặc đi bộ là 20%. Thiết kế này thừa nhận doanh thu ứng dụng chưa phải thu nhập thực tế của tài xế.
![]() |
| Kinh nghiệm từ Singapore. Thiết kế có sự hỗ trợ của AI. |
Để hạn chế tác động lên thu nhập khả dụng, Singapore triển khai hỗ trợ chuyển tiếp giai đoạn 2025-2028 cho lao động nền tảng thu nhập thấp. Chính sách giúp bù một phần mức tăng đóng góp trong quá trình chuyển đổi. Đây là chi tiết quan trọng: mở rộng an sinh đi cùng một “đường băng” đủ dài để người lao động thích nghi.
Malaysia cũng đang tiến theo hướng tăng trách nhiệm của hệ sinh thái nền tảng. Gig Workers Act 2025 đưa cơ chế bảo vệ an sinh đối với lao động gig vào khuôn khổ pháp lý; nền tảng có trách nhiệm liên quan tới việc khấu trừ, đóng góp. Ngân sách 2026 còn bổ sung cơ chế hỗ trợ đóng góp cho lao động gig, e-hailing, p-hailing nhằm củng cố bảo vệ dài hạn.
Những kinh nghiệm này gợi mở rằng Việt Nam chưa cần lựa chọn giữa hai cực là để lao động nền tảng hoàn toàn tự lo an sinh hoặc áp ngay cơ chế tương tự lao động có hợp đồng. Một mô hình trung gian có thể phù hợp hơn, với đối tượng được định danh cụ thể, mức đóng gắn thu nhập thực, trách nhiệm được chia sẻ, lộ trình tăng dần theo khả năng thích ứng.
Trước mắt, nhóm tài xế, shipper có công việc thường xuyên, thu nhập chủ yếu qua nền tảng có thể là đối tượng phù hợp để nghiên cứu thí điểm. Dữ liệu doanh thu đã được ghi nhận trên hệ thống số tạo điều kiện xác định căn cứ đóng. Những người chạy bán thời gian, đã tham gia BHXH bắt buộc ở công việc khác cần cơ chế riêng nhằm tránh đóng trùng, phát sinh thêm thủ tục.
Quan trọng hơn, phần đóng của doanh nghiệp nền tảng cần được xác định rõ ngay khi thiết kế chính sách. Một cơ chế buộc tài xế tự gánh toàn bộ chi phí sẽ khó giải quyết căn nguyên của khoảng trống an sinh. Trái lại, chia sẻ trách nhiệm giữa người lao động, nền tảng, Nhà nước trong giai đoạn đầu có thể tạo sự cân bằng giữa thu nhập hôm nay với sự bảo đảm cho ngày mai.
Đưa lao động nền tảng vào lưới BHXH là hướng đi phù hợp với sự thay đổi của thị trường lao động. Song kinh nghiệm khu vực cho thấy “bắt buộc” mới là điểm khởi đầu. Chính sách thành công khi người lao động biết mình đóng bao nhiêu, nền tảng đóng bao nhiêu, quyền lợi nhận được ra sao, mức đóng phản ánh đúng thu nhập thực tế, lộ trình đủ mềm để một tấm lưới an sinh trở thành chỗ dựa thay cho gánh nặng.