![]() |
| Tiếp nhận hồ sơ đề nghị hưởng chính sách trợ giúp xã hội. |
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.
Theo Nghị định này, mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng). Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại nghị định này.
Nghị định cũng nêu rõ, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác và các mức trợ giúp xã hội khác.
Đáng chú ý, người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây được trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng: Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng và người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.
Theo đó, trường hợp người cao tuổi từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng có hệ số hưởng trợ cấp là 1,5. Như vậy, nhóm này được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng bằng 810.000 đồng/tháng.
Bên cạnh đó, trường hợp người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng được hưởng hệ số 2,0, tương ứng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng bằng 1,080 triệu đồng/tháng.
Ngoài ra, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng hưởng hệ số 3,0, tương ứng hưởng trợ cấp xã hội bằng 1,62 triệu đồng/tháng.
Cũng theo quy định, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị hưởng của đối tượng, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú phải tổ chức xác thực thông tin liên quan của đối tượng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung; thẩm định, quyết định trợ cấp xã hội, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng.
Thời gian hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng từ tháng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký quyết định. Tổ chức thực hiện chi trả chế độ, chính sách cho đối tượng theo quy định của pháp luật.