![]() |
| Cần chú trọng “định vị” chính sách bảo hiểm thất nghiệp thành công cụ phát triển thị trường lao động. |
Sau 17 năm triển khai, chính sách BHTN đã thực sự đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực cho người lao động, người sử dụng lao động, thị trường lao động, đặc biệt là đối với công tác an sinh xã hội. Theo đó, năm 2019, cả nước có khoảng 5,9 triệu người tham gia BHTN; đến quý II/2026 đã tăng lên khoảng 17,05 triệu người - qua đó cho thấy người lao động và người sử dụng lao động ngày càng quan tâm và tham gia vào chính sách này.
Bên cạnh đó, số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng rất lớn. Khoản trợ cấp này đã góp phần hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc làm, không có thu nhập, giúp họ giảm bớt khó khăn về kinh tế và ổn định cuộc sống. Đáng chú ý, lao động thất nghiệp còn được tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và được đóng BHYT, giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn và sớm quay trở lại thị trường lao động.
Theo đó, các Trung tâm Dịch vụ việc làm trong cả nước đã đẩy mạnh hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí bằng nhiều hình thức khác nhau. Thông qua đó, các Trung tâm Dịch vụ việc làm vừa có thể nắm bắt tình trạng người thất nghiệp để tư vấn, giới thiệu việc làm hoặc khuyến nghị người lao động học nghề để chuyển đổi việc làm, vừa giúp cập nhật thông tin để cơ quan chức năng phân tích thị trường lao động và đưa ra những dự báo, giải pháp tạo việc làm.
Điều này cho thấy, chính sách BHTN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động. Qua đó, giúp thị trường lao động phát triển theo hướng lành mạnh, minh bạch, công khai; cũng như hạn chế những rủi ro mà người lao động có thể gặp phải trong quá trình tìm kiếm việc làm. Đồng thời, giúp cơ quan quản lý nhà nước có chính sách kịp thời, phù hợp trong đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực.
Theo ông Vũ Quang Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, thông qua quá trình tư vấn, cán bộ Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội đã chủ động phân luồng, bảo đảm người lao động được tư vấn, định hướng nghề nghiệp. Việc này giúp mỗi người lao động xác định rõ nhu cầu của mình, từ đó tiếp tục tìm kiếm việc làm mới hoặc tham gia đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề để chuyển đổi nghề phù hợp.
Cũng theo ông Vũ Quang Thành, ngoài tư vấn, giới thiệu việc làm thường xuyên, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội còn tổ chức các phiên giao dịch việc làm định kỳ, phiên chuyên đề hoặc kết nối các phiên giao dịch việc làm trực tuyến với các tỉnh, thành phố. Việc đa dạng hóa các hình thức trên giúp người lao động có thêm nhiều lựa chọn, tiếp cận được nhiều doanh nghiệp, vị trí việc làm để có thể nhanh chóng tìm được công việc phù hợp.
Cũng như Hà Nội, nhiều địa phương khác cũng chủ động triển khai nhiều giải pháp cung cấp thông tin thị trường lao động, giới thiệu việc làm như: Thu thập thông tin cung, cầu lao động; tổng hợp, phân tích, phân loại theo trình độ, kỹ năng, vị trí việc làm giúp kết nối người lao động với doanh nghiệp được hiệu quả; tổ chức các hoạt động giới thiệu, kết nối việc làm thông qua các phiên giao dịch việc làm, tư vấn nhằm giúp người lao động tiếp cận doanh nghiệp được dễ dàng hơn; xây dựng, cung cấp các sản phẩm thông tin thị trường lao động tới người lao động, doanh nghiệp và cơ quan liên quan.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc cung cấp thông tin thị trường lao động vẫn còn gặp một số khó khăn, do việc chia sẻ, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị chưa được đầy đủ; tốc độ cập nhật dữ liệu chưa kịp thời, khiến việc cảnh báo, khuyến cáo về thị trường lao động bị chậm. Những hạn chế này khiến người lao động và doanh nghiệp không “bắt sóng” được kịp thời nhu cầu của nhau.
Chính vì vậy, theo các chuyên gia lao động, các cơ quan chức năng cần chú trọng nâng cao năng lực phân tích và dự báo thị trường lao động; đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số các kênh thông tin, để người lao động và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn.
Liên quan vai trò của chính sách BHTN, ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng BHTN (Cục Việc làm, Bộ Nội vụ) cho rằng, Luật Việc làm năm 2025 đã hoàn thiện hơn cơ chế nhằm đảm bảo quỹ BHTN có thể phát huy tốt hơn tác dụng khi lao động và chủ doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro. Đáng chú ý, quỹ BHTN ngày càng chứng minh tính hiệu quả, thực sự là “phao cứu sinh” của người lao động và người sử dụng lao động trong thời điểm khó khăn đột xuất, suy giảm kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc các trường hợp bất khả kháng khác.
Cũng theo các chuyên gia, điều quan trọng nhất của chính sách BHTN không phải là chi trả trợ cấp, mà là giúp người lao động sớm quay lại làm việc. Bởi, mục tiêu cốt lõi của chính sách là giúp người lao động nhanh chóng tìm được việc làm mới thông qua tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và các giải pháp kết nối với doanh nghiệp.
Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, giúp người lao động tiếp cận doanh nghiệp cũng như thông tin tuyển dụng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, điều này cũng tạo nên thách thức, khi nhiều lao động, nhất là những lao động lớn tuổi, ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế kỹ năng số, khó tiếp cận các nguồn thông tin chính thống, dẫn đến rủi ro trong quá trình tìm kiếm việc làm.
Do đó, đòi hỏi các Trung tâm Dịch vụ việc làm cần mở rộng không gian cung cấp thông tin, giúp người lao động dễ dàng kết nối với doanh nghiệp; qua đó góp phần giảm chi phí và hạn chế rủi ro cho cả hai bên. Và, việc này có thành công hay không, cần phải được nhìn nhận, cân đo bằng số người tìm được việc làm phù hợp, chứ không chỉ đơn thuần bằng số lượt tư vấn, số vị trí việc làm được giới thiệu.
Bên cạnh đó, các Trung tâm Dịch vụ việc làm cũng cần tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ tư vấn viên; đẩy mạnh chuyển đổi số; đa dạng hóa các kênh cung cấp thông tin tuyển dụng; tăng cường tổ chức các phiên giao dịch việc làm và mở rộng kết nối với doanh nghiệp để cập nhật thường xuyên nhu cầu tuyển dụng. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền, “định vị” chính sách BHTN thành công cụ phát triển thị trường lao động, giúp người lao động và doanh nghiệp chủ động và có ý thức tuân thủ nghiêm.