![]() |
| Cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội cần tư duy quản trị mới, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh minh họa. |
Giai đoạn phát triển mới cần những động lực mới
Sau hơn 8 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương và Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH, Trung ương đã tiến hành sơ kết, đánh giá hai chính sách này, để tiếp tục hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đặc biệt, lần cải cách này diễn ra đúng thời điểm Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới, với những yêu cầu, điều kiện và thách thức hoàn toàn khác so với thời điểm hai Nghị quyết được ban hành năm 2018.
Tại cuộc làm việc với Bộ Nội vụ về xây dựng Đề án cải cách tiền lương và BHXH diễn ra mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã nhấn mạnh quan điểm cải cách chính sách tiền lương và BHXH phải được đặt trong bối cảnh mới của đất nước. Theo đó, phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, thích ứng với những biến đổi của thị trường lao động, xu hướng già hóa dân số và sự xuất hiện của các hình thức việc làm mới.
Quan điểm trên cho thấy, phạm vi của Đề án không dừng ở việc điều chỉnh một vài chế độ tiền lương hay sửa đổi kỹ thuật trong chính sách BHXH. Thực tế, đây chính là dịp để Đảng và Nhà nước nhìn nhận lại toàn bộ hai chính sách trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, cũng như cách thức quản trị nguồn nhân lực quốc gia dưới góc độ phát triển bền vững.
Phải thấy được, sau 40 năm đổi mới, từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức, nhất là phải làm sao thích ứng trước những yêu cầu phát triển mới.
Theo đánh giá của nhiều tổ chức và chuyên gia quốc tế, những năm qua, Việt Nam đạt được những thành tựu tăng trưởng rất ấn tượng. Song, muốn hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư và lao động giá rẻ.
Các ý kiến cũng đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam, đó là động lực tăng trưởng trong giai đoạn tới phải đến từ cải thiện năng suất lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng hiệu quả quản trị công và xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, có khả năng thích ứng với quá trình già hóa dân số. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải sớm hoàn thiện chính sách tiền lương và BHXH, đáp ứng những yêu cầu trong thời đại mới.
Theo đó, tiền lương không chỉ đơn thuần là khoản chi từ ngân sách hay chi phí của doanh nghiệp, mà là tín hiệu của thị trường lao động, là công cụ phân bổ nguồn nhân lực, là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Bởi, một cơ chế tiền lương hợp lý sẽ tạo động lực để người lao động không ngừng nâng cao trình độ, đồng thời giúp khu vực công đủ sức cạnh tranh trong việc thu hút và giữ chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện chính sách BHXH giúp bảo đảm thu nhập cho người lao động hết tuổi lao động hoặc gặp rủi ro trong cuộc sống. Đồng thời, còn góp phần giữ vững ổn định xã hội, giảm bất bình đẳng, cũng như củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống an sinh xã hội quốc gia.
Đặc biệt, chính sách tiền lương và BHXH luôn song hành với nhau trong toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Cụ thể, tiền lương tạo ra nguồn đóng góp cho hệ thống BHXH; còn BHXH bảo đảm giúp người lao động có sự yên tâm để cống hiến, nâng cao năng suất và gắn bó lâu dài với thị trường lao động.
![]() |
| Hoàn thiện chính sách tiền lương và BHXH để xây dựng thị trường lao động hài hòa, ổn định và bền vững. Ảnh minh họa. |
Những vấn đề mới cần tư duy quản trị mới
Những năm trước, trọng tâm cải cách của Đảng và Nhà nước chủ yếu vào việc điều chỉnh tiền lương và mở rộng diện bao phủ BHXH. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi thị trường lao động đang chuyển dịch mạnh dưới tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và kinh tế nền tảng, thì tư duy, quan điểm cải cách đã thay theo hướng thực chất và toàn diện hơn.
Thực tế thị trường lao động cho thấy, ngày càng nhiều người lao động làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, lao động tự do, lao động làm việc từ xa (online)… Những hình thức việc làm này tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, nhưng cũng làm phát sinh lỗ hổng trong thực thi chính sách BHXH -vốn được thiết kế chủ yếu cho quan hệ lao động ổn định.
Trong khi đó, tình trạng già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh, khiến nhu cầu chi trả cho các chính sách an sinh, nhất là chi lương hưu và trợ cấp xã hội sẽ tăng nhanh trong những thập niên tới. Điều này đòi hỏi hệ thống chính sách BHXH phải được cải cách toàn diện, để bảo đảm nguồn tài chính bền vững trong dài hạn.
Ngoài ra, khu vực phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế. Theo ước tính, có khoảng 68,5% lao động đang làm việc trong khu vực phi chính thức và phần lớn trong số đó chưa được tiếp cận chế độ chính sách BHXH. Thực trạng này tạo nên thách thức không nhỏ cho việc thực hiện mục tiêu bao phủ BHXH toàn dân, cũng như ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
Chính vì vậy, Đề án cải cách lần này được kỳ vọng giúp giải quyết toàn diện những bất cập, của chính sách, đảm bảo chính sách thích ứng với những biến đổi sâu sắc của thị trường lao động trong nhiều năm tới. Từ đó, xây dựng nền tảng thể chế cho một thị trường lao động hiện đại, một nền công vụ chuyên nghiệp và một hệ thống an sinh xã hội đủ sức đồng hành cùng mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.