![]() |
| Cơ chế phối hợp giữa cơ quan BHXH và VKSND trong xử lý nợ BHXH đang phát huy hiệu quả. Ảnh minh họa được thiết kế bởi AI. |
Cơ chế mới xử lý nợ BHXH hiệu quả
Sau những điểm nghẽn kéo dài trong xử lý nợ BHXH, yêu cầu đặt ra là bổ sung một mắt xích đủ sức thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ khi các biện pháp đôn đốc thông thường chưa phát huy hiệu quả. Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội mở ra một hướng tiếp cận mới, với sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể dễ bị tổn thương, lợi ích công.
Theo Nghị quyết số 205/2025/QH15, cơ chế VKSND khởi kiện vụ án dân sự được thí điểm trong ba năm, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 tại 6 địa phương gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh và Đắk Lắk. Trong lĩnh vực BHXH, cơ chế này tạo thêm hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi người lao động trước những hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo hiểm.
Điểm đáng chú ý nằm ở khả năng kết nối thông tin, trách nhiệm xử lý và công cụ pháp lý. Khi phát hiện doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng hoặc có dấu hiệu ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động, cơ quan BHXH phối hợp cung cấp thông tin, hồ sơ để VKSND xem xét theo thẩm quyền. Quá trình rà soát, làm việc, đôn đốc giúp thu hẹp khoảng trống từ phát hiện vi phạm đến hành động xử lý.
![]() |
| Cơ quan BHXH cơ sở thuộc BHXH TP. Hà Nội ký kết với VKSND khu vực 2. |
Tại Hà Nội, kết quả bước đầu cho thấy tác động rõ nét của cơ chế phối hợp. Tính đến ngày 13/8/2026, VKSND thành phố cùng các VKSND khu vực đã đôn đốc 1.960 đơn vị sử dụng lao động có tổng số tiền chậm đóng 219,723 tỷ đồng. Sau khoảng ba tháng triển khai, các đơn vị đã khắc phục 111,638 tỷ đồng, tương đương 45,75%.
Những con số trên cho thấy việc đưa vụ việc vào quy trình phối hợp sớm có thể tạo sức ép tuân thủ đáng kể. Khi nhận được yêu cầu làm việc từ VKSND, doanh nghiệp phải đối diện rõ hơn với trách nhiệm pháp lý, từ đó chủ động bố trí nguồn lực khắc phục. Mỗi khoản tiền được thu hồi cũng đồng nghĩa quyền lợi BHXH của người lao động có thêm cơ hội được bảo đảm trước khi khoản nợ kéo dài, trở nên khó xử lý.
Giá trị của cơ chế còn nằm ở khả năng phân loại vụ việc để lựa chọn biện pháp phù hợp. Doanh nghiệp khó khăn tạm thời có thể được yêu cầu xây dựng lộ trình khắc phục; trường hợp cố tình chây ì, né tránh nghĩa vụ cần chịu sức ép pháp lý mạnh hơn. Cách tiếp cận này giúp nguồn lực xử lý tập trung đúng đối tượng, đúng mức độ vi phạm, đồng thời tạo nền tảng chuyển từ xử lý nợ bị động sang can thiệp sớm để bảo vệ người lao động.
Phối hợp sớm, tăng sức ép tuân thủ
Tại Quảng Ninh, cơ chế phối hợp giữa BHXH và VKSND bước đầu tạo chuyển biến trong xử lý các đơn vị chậm đóng, trốn đóng BHXH. BHXH Thành phố đã cung cấp hồ sơ của 275 đơn vị cho VKSND để rà soát, đôn đốc, trong đó 145 đơn vị có thời gian nợ từ sáu tháng trở lên - nhóm tiềm ẩn nguy cơ kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động.
Sự tham gia của VKSND đã tạo thêm sức ép tuân thủ. Sau khi được yêu cầu làm việc, nhiều doanh nghiệp chủ động khắc phục vi phạm, nộp tiền bảo hiểm cho người lao động. Công ty Cổ phần Đô thị B.M.V đã nộp 285 triệu đồng; Công ty TNHH Một thành viên H.T nộp 289 triệu đồng; Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển F.L.C Hạ Long nộp gần 2,8 tỷ đồng.
Đến nay, 135/275 đơn vị đã thực hiện nghĩa vụ, với số tiền khoảng 15 tỷ đồng trong tổng số nợ hơn 82 tỷ đồng. Đáng chú ý, riêng nhóm nợ từ sáu tháng trở lên đã có 60 doanh nghiệp nộp tiền, giúp thu hồi khoảng 12,6 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy khi hồ sơ được chuyển vào quy trình phối hợp sớm, áp lực pháp lý có thể thúc đẩy doanh nghiệp khắc phục trước khi khoản nợ tiếp tục kéo dài.
Ông Nguyễn Huy Thông, Phó Giám đốc BHXH TP. Quảng Ninh, cho biết doanh nghiệp đã chủ động đến làm việc và khắc phục vi phạm sau khi cơ chế phối hợp được triển khai. Khi trách nhiệm được đặt trong một quy trình rõ ràng, doanh nghiệp có thêm động lực thực hiện nghĩa vụ, khả năng thu hồi nợ cũng được cải thiện.
![]() |
| BHXH TP. Quảng Ninh ký kết cơ chế hợp tác với VKSND Khu vực 1 - Quảng Ninh. |
“Giá trị của mô hình nằm ở việc tạo chuỗi hành động liên tục khi cơ quan BHXH rà soát, xác định khoản chậm đóng; VKSND tiếp nhận thông tin, đôn đốc và đánh giá căn cứ pháp lý; doanh nghiệp được yêu cầu giải trình, khắc phục hoặc thực hiện nghĩa vụ theo lộ trình. Cách làm này hạn chế tình trạng hồ sơ bị bỏ ngỏ”, ông Nguyễn Huy Thông chia sẻ.
Theo ông Đặng Đình Vang, Phó Viện trưởng VKSND TP. Quảng Ninh, trong quá trình làm việc, VKSND luôn xác định thông tin rõ ràng về trách nhiệm, pháp lý cho doanh nghiệp hướng tới bảo đảm quyền lợi người lao động, tạo điều kiện để doanh nghiệp khắc phục khó khăn chứ không làm khó doanh nghiệp. Các đơn vị sau khi được phân tích quy định và hậu quả chậm đóng đã nộp tiền hoặc cam kết xây dựng lộ trình thanh toán phù hợp.
Tại TP. Hồ Chí Minh, cơ chế phối hợp được triển khai với quy mô lớn. Tính đến ngày 9/8/2026, BHXH Thành phố phối hợp VKSND mời 4.038 đơn vị, doanh nghiệp chậm đóng đến làm việc, với số tiền khoảng 1.600 tỷ đồng. Qua đó, 1.200 doanh nghiệp đã khắc phục hoặc khắc phục một phần, với số tiền hơn 105 tỷ đồng này.
Những kết quả này gợi mở cách tiếp cận với bài toán đã đặt ra khi xử lý nợ cần được kích hoạt sớm, thông tin phải được chuyển đúng địa chỉ và công cụ pháp lý cần được sử dụng đúng thời điểm. Cơ chế phối hợp giữa BHXH và VKSND vì thế có thể trở thành lớp bảo vệ mới cho người lao động.
Chuyển từ “chữa” nợ sang phòng ngừa từ sớm
Đánh giá về mô hình phối hợp giữa BHXH và VKSND, PGS.,TS. Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, cho rằng kết quả bước đầu cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý trong xử lý nợ BHXH. Sự phối hợp tạo thêm sức ép tuân thủ, đồng thời mở ra cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động bằng công cụ pháp lý khi cần thiết.
Từ kết quả thí điểm, yêu cầu tiếp theo là chuẩn hóa cơ chế phối hợp, thống nhất tiêu chí rà soát, phân loại, chuyển hồ sơ. “Thời gian nợ, số tiền nợ, số lao động bị ảnh hưởng, lịch sử chấp hành, tình trạng hoạt động của doanh nghiệp cần được cập nhật thường xuyên. Đây là cơ sở để nhận diện mức độ rủi ro, lựa chọn đúng vụ việc, đúng thời điểm, đúng biện pháp xử lý”, PGS.,TS. Nguyễn Thị Lan Hương nhận định.
![]() |
| PGS.,TS. Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội. |
Theo PGS.,TS. Nguyễn Thị Lan Hương, việc phân loại sớm đặc biệt quan trọng bởi mỗi khoản nợ có nguyên nhân, mức độ rủi ro khác nhau. Doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời cần cách tiếp cận khác với trường hợp chây ì, né tránh nghĩa vụ hoặc đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động. Nhận diện đúng bản chất khoản nợ giúp cơ quan chức năng can thiệp kịp thời, hạn chế nợ kéo dài đến mức khó thu hồi.
Đồng quan điểm, Luật sư Lê Đình Quảng, nguyên Phó Trưởng ban Chính sách pháp luật Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cho rằng cơ chế phối hợp giữa BHXH và VKSND có thể trở thành cầu nối giữa phòng ngừa với xử lý bằng công cụ tư pháp. Khi thông tin được chia sẻ kịp thời, những dấu hiệu bất thường có thể được nhận diện sớm, tạo sức ép để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ. “Với các trường hợp vi phạm kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến người lao động, khởi kiện là giải pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi”, Luật sư Lê Đình Quảng nhấn mạnh.
Tuy nhiên, đích đến của việc nhân rộng mô hình không nằm ở số lượng hồ sơ được chuyển hay số vụ việc phải đưa ra tòa. Theo Luật sư Lê Đình Quảng, giá trị lớn hơn là hình thành cơ chế phát hiện sớm, cảnh báo sớm, can thiệp sớm. Khi khoản nợ được nhận diện từ lúc mới phát sinh, cơ hội thu hồi cao hơn, đồng thời giảm nguy cơ quyền lợi của người lao động rơi vào tình thế khó khắc phục.
Từ đây, bài toán nợ BHXH đặt ra một yêu cầu xa hơn là làm sao nhìn thấy rủi ro trước khi khoản nợ nhỏ trở thành khoản nợ lớn, trước khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán? Câu trả lời nằm ở dữ liệu, kết nối thông tin, hệ thống cảnh báo đủ sớm. Đó cũng là bước chuyển từ bảo vệ người lao động sau vi phạm sang chủ động phòng ngừa rủi ro.
(Còn tiếp)