![]() |
| Hiện đại hoá hệ thống an sinh xã hội từng bước được hiện đại hóa, nâng cao chất lượng đời sống người dân. Ảnh minh họa được tạo bởi AI. |
Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, cả nước hiện có 22,4 triệu người tham gia BHXH, trong đó, có 19,69 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, 2,7 triệu người tham gia BHXH tự nguyện. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là 17,75 triệu người. Số người tham gia BHYT là 98,76 triệu người, tương ứng bao phủ trên 95% dân số.
Quyền lợi BHXH, BHYT của người dân tiếp tục được đảm bảo. Cơ quan BHXH liên tục đảm bảo chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng cho khoảng 3,5 triệu người. Tính riêng trong năm 2025, đã có 1,15 triệu người hưởng các chế độ BHXH một lần, 9,71 triệu lượt người hưởng các chế độ ngắn hạn; 770.720 người hưởng các chế độ BHTN.
Đến hết tháng 7/2026, cơ quan BHXH đã giải quyết cho 56.881 người hưởng mới các chế độ BHXH hằng tháng, trên 5,57 triệu lượt người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe; 454.902 người hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Công tác giải quyết các chế độ, chính sách BHYT luôn được cơ quan BHXH đảm bảo vừa đầy đủ, kịp thời quyền lợi của người dân, vừa quản lý, nhận diện và hạn chế các rủi ro trong quá trình sử dụng quỹ BHYT. Trong 7 tháng năm 2026, các cơ sở khám, chữa bệnh tiếp nhận gần 113,35 triệu lượt người khám, chữa bệnh BHYT với số chi đề nghị thanh toán khoảng 101.915 tỷ đồng.
Đây là những lát cắt cho thấy phần nào bức tranh an sinh xã hội của nước ta với trụ cột chính là chính sách BHXH, BHYT, đã và đang không ngừng được mở rộng bao phủ tới đông đảo người lao động. Từ nền tảng này, hàng triệu người dân – trong các hoàn cảnh yếu thế (ốm đau, trọng bệnh, già cả, bị mất việc làm tạm thời…) sẽ được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ, bù đắp hoặc bảo đảm một phần thu nhập một cách thiết thực.
Như đã nêu ở trên, những con số mới chỉ là một phần của bức tranh an sinh xã hội. Với nội hàm rất rộng, trên thực tế, chính sách an sinh xã hội còn bao hàm trong đó nhiều cơ chế khác. Ngoài BHXH, BHYT, BHTN, còn có thể kể đến trợ cấp hưu trí xã hội (bao phủ khoảng 2,5 triệu người từ 75 tuổi trở lên, được ngân sách nhà nước chi 500.000 đồng/tháng theo quy định hiện hành); các chính sách bảo trợ xã hội với người khuyết tật; chính sách hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo, thoát nghèo với đồng bào dân tộc thiểu số vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn…
Nguồn lực từ ngân sách nhà nước chi cho an sinh xã hội rất lớn, cùng với nguồn chi trả từ quỹ BHXH, BHYT, BHTN… tất cả đã cộng hưởng đã hình thành nên một nền tảng an sinh xã hội đa tầng, bao trùm và không ngừng được mở rộng. Đây chính là thành quả qua 81 năm xây dựng và phát triển của đất nước ta, cũng là thành tựu hiện hữu sau khoảng 40 năm triển khai công cuộc đổi mới phát triển kinh tế.
Có một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 320/2026/NĐ-CP ngày 13/8/2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2024/NĐ-CР ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử: Tài khoản hưởng an sinh xã hội là thông tin định danh trên Ứng dụng định danh quốc gia, cho phép chủ thể danh tính điện tử tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử, tài khoản tiền di động để tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí, chi trả an sinh xã hội và các khoản kinh phí hợp pháp.
Nghị định số 320/2026/NĐ-CP của Chính phủ cũng nêu rõ: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện việc chi trả các khoản hỗ trợ, hưu trí, an sinh xã hội và các khoản kinh phí hợp pháp khác từ ngân sách nhà nước qua hình thức chuyển khoản đến tài khoản hưởng an sinh xã hội trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).
Như vậy, người hưởng các chế độ an sinh xã hội đã được xác thực, định danh bằng một phương thức mới, hiện đại, với nền tảng ứng dụng định danh quốc gia. Đây là một bước tiến không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn có ý nghĩa rất lớn khi nhìn từ góc độ quản lý.
Từ đây, khi hoạch định các chính sách an sinh, các cơ chế hỗ trợ, việc khoanh vùng các nhóm đối tượng hưởng (theo định danh điện tử) gần như có thể xác định được nhanh chóng. Và với việc gắn tài khoản an sinh hưởng theo định danh điện tử, quá trình chi trả có thể triển khai được ngay, gần như không qua khâu trung gian hay phải thực hiện kê khai, ký nhận theo hình thức thủ công như trước kia. Đây là một trong những minh chứng sinh động cho thấy hệ thống an sinh xã hội của nước ta không chỉ từng bước được mở rộng theo chiều rộng mà còn chú trọng phát triển theo chiều sâu, trọng tâm là hiện đại hóa mạnh mẽ.
![]() |
| Cán bộ cơ quan BHXH tuyên truyền, vận động người dân hưởng lương hưu qua thẻ ATM. |
Với BHXH Việt Nam, cơ quan đóng vai trò tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, có phạm vi tác động đến khoảng 95% dân số, quá trình hiện đại hóa, quản lý bằng dữ liệu cũng sớm được thúc đẩy mạnh mẽ. Ngay với câu chuyện chi trả qua tài khoản thanh toán cá nhân (không sử dụng tiền mặt, không chi trả qua khâu trung gian), ở kỳ chi trả tháng 8/2026, toàn hệ thống BHXH Việt Nam tiếp tục triển khai chi trả cho hơn 3,56 triệu người hưởng các chế độ BHXH hằng tháng, trong đó tỷ lệ người hưởng chế độ qua các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt bình quân toàn quốc đạt gần 95%.
Đáng chú ý, theo thông báo từ cơ quan BHXH, từ tháng 8/2026, thực hiện chuyển đổi mã số BHXH sang số định danh cá nhân (ĐDCN)/căn cước công dân (CCCD), bộ mã quản lý trên các phần mềm nghiệp vụ của BHXH Việt Nam. Quá trình chuyển đổi thực hiện trên toàn hệ thống và vận hành bắt đầu từ ngày 1/9/2026. Không đơn giản là chuyện sử dụng mã số BHXH hay mã số CCCD, quá trình này sẽ đảm bảo đồng bộ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm. Đây là một bước tiến mới trong quản lý với nguồn dữ liệu đồng bộ, tập trung, phục vụ hiệu quả cho quá trình thực hiện chính sách, cải cách hành chính (hạn chế việc phải cung cấp thông tin, giấy tờ nhiều lần); đồng thời có cơ sở thực tiễn phục vụ cho việc hoạch định chính sách, xác định đúng, chính xác số người hưởng hoặc chịu phạm vi tác động.
Hướng tới năm 2030, BHXH Việt Nam cũng đang xác định những mục tiêu mới trong câu chuyện hiện đại hóa. Trong đó, phấn đấu 100% dữ liệu có khả năng chia sẻ được cung cấp, khai thác thông qua các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định, hạn chế tối đa việc trao đổi dữ liệu thủ công, trùng lặp. Đẩy mạnh tự động hóa quy trình nghiệp vụ, phấn đấu phần lớn các khâu kiểm tra, đối chiếu, xác thực dữ liệu có quy tắc rõ ràng và đủ điều kiện kỹ thuật được hỗ trợ xử lý tự động. Từng bước hình thành BHXH số, trong đó người dân, người lao động và doanh nghiệp có thể thực hiện phần lớn các giao dịch với cơ quan BHXH trên môi trường số theo hướng thuận tiện, minh bạch và giảm thời gian, chi phí thực hiện…
Không chỉ riêng hệ thống BHXH, nhiều ngành lĩnh vực khác cũng đang tăng tốc, số hóa mạnh mẽ. Có thể kể đến nỗ lực của ngành Y tế trong quá trình xây dựng sổ sức khỏe điện tử của từng người dân; làm sạch, đồng bộ dữ liệu khám, chữa bệnh… Bên cạnh đó là các lĩnh vực như quản lý lao động, việc làm; các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển miền núi dân tộc thiểu số… cũng đang số hóa mạnh mẽ và liên thông dữ liệu tích cực giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan.
Từ câu chuyện định danh người hưởng cho đến nỗ lực đồng bộ, hiện đại hóa quy trình thực hiện ở từng cơ quan, đơn vị, hệ thống an sinh xã hội của đất nước đang bước được quản lý theo mô hình hiện đại. Đây là nền tảng quan trọng để quá trình xây dựng thực thi các chính sách an sinh được đúng, trúng và hiệu quả với đích đến là từng người dân - được định danh điện tử.