![]() |
| Cần ngăn nợ BHXH lớn dần từ những tháng chậm đóng đầu tiên. Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI. |
Những con số về các khoản nợ BHXH khó thu hồi cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tính đến cuối năm 2025, có 26.670 đơn vị với 206.468 lao động được xác định không có khả năng thu hồi số tiền BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), tổng số tiền lên tới 3.176 tỷ đồng. Phía sau mỗi khoản nợ là những quyền lợi an sinh đang bị trì hoãn.
Điểm đáng lưu ý là nhiều khoản nợ khó thu hồi không xuất hiện ngay từ đầu dưới dạng một khoản tiền lớn. Nợ thường bắt đầu bằng vài tháng chậm đóng, sau đó tiếp tục kéo dài. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc cố tình chây ì, khoản nợ tăng dần, tiền lãi phát sinh, khả năng thanh toán suy giảm. Đến lúc doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản hoặc không còn người đại diện, việc xử lý đã khó hơn nhiều.
Từ thực tế này, yêu cầu đặt ra là phải thay đổi cách tiếp cận là ngăn khoản nợ lớn lên thay vì chờ khoản nợ trở thành vấn đề rồi mới xử lý. Đây cũng là điểm mà các chuyên gia cho rằng cần được nhìn nhận trong tổng thể quản lý BHXH, từ trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ quan BHXH đến sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật.
Theo GS., TS. Giang Thanh Long, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, chuyên gia về chính sách công và an sinh xã hội, tình trạng chậm, trốn đóng BHXH kéo dài trước hết tác động trực tiếp đến người lao động. Khi quyền lợi bị treo nhiều lần, niềm tin vào giá trị bảo vệ của BHXH có thể suy giảm, từ đó hình thành tâm lý tham gia mang tính đối phó thay vì xem BHXH là một phần quan trọng của an sinh lâu dài.
Một nguyên nhân khiến doanh nghiệp có thể kéo dài tình trạng chậm đóng, theo GS.,TS. Giang Thanh Long, nằm ở sức nặng của chế tài. Khoản tiền đáng ra phải đóng vào quỹ BHXH có thể được doanh nghiệp giữ lại để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc gửi ngân hàng tạo ra lợi nhuận. Nếu lợi ích từ việc chiếm dụng nguồn tiền lớn hơn chi phí phải chịu khi bị xử phạt, chế tài sẽ khó tạo ra tác dụng ngăn ngừa.
“Doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm, nhưng có thể đang có hàng tỉ đồng đáng ra phải đóng và họ có thể gửi ngân hàng hoặc kinh doanh sinh lãi. Số lãi đó có thể “bù” được mức phạt hành chính do nợ đóng BHXH”, GS.,TS. Giang Thanh Long phân tích, đồng thời cho rằng cách thiết kế như vậy có thể vô tình tạo động lực cho hành vi chậm, trốn đóng kéo dài.
![]() |
| GS.,TS. Giang Thanh Long, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, chuyên gia về chính sách công và an sinh xã hội. |
Theo chuyên gia này, nghĩa vụ BHXH cần được nhìn nhận với mức độ nghiêm túc tương xứng với các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước. Khi doanh nghiệp chiếm dụng khoản tiền đã được xác định phải đóng, hậu quả cuối cùng có thể chuyển sang người lao động và hệ thống an sinh. Vì vậy, chế tài cần đủ mạnh, còn việc thực thi cần tạo ra rủi ro thực sự đối với những trường hợp cố tình vi phạm.
Một mắt xích khác được GS.,TS. Giang Thanh Long đặc biệt lưu ý là vai trò của chính người lao động. Trong điều kiện công nghệ đã cho phép theo dõi quá trình tham gia BHXH trên ứng dụng VssID, người lao động có thêm công cụ để biết doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hay không. Tuy nhiên, việc theo dõi thường xuyên vẫn chưa trở thành thói quen phổ biến.
Theo GS.,TS. Giang Thanh Long, cần tăng cường tuyên truyền để người lao động chủ động kiểm tra quá trình đóng BHXH của mình. Quan trọng hơn, cần nghiên cứu cơ chế thông báo sớm ngay trong tháng đầu tiên doanh nghiệp chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ. Khi được cảnh báo kịp thời, người lao động có thể trao đổi với doanh nghiệp, liên hệ cơ quan BHXH hoặc sử dụng các cơ chế pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền lợi.
Cách làm này tạo thêm một lớp giám sát ngay từ cơ sở. Doanh nghiệp biết rằng việc chậm đóng sẽ nhanh chóng được người lao động phát hiện; người lao động biết quyền lợi của mình đang được theo dõi; cơ quan BHXH có thêm thông tin để chủ động kiểm tra. Khi ba chủ thể cùng tham gia giám sát, khoảng thời gian để một khoản nợ âm thầm tích tụ sẽ được rút ngắn.
Vấn đề còn nằm ở cơ chế kết nối thông tin. Một doanh nghiệp có dấu hiệu chậm đóng BHXH thường đồng thời có những dữ liệu liên quan đến thuế, tài khoản ngân hàng, lao động, hoạt động kinh doanh và tình trạng pháp lý. Nếu các nguồn dữ liệu này được chia sẻ theo quy định, cơ quan chức năng có thể nhận diện sớm những doanh nghiệp đang gặp khó khăn thực sự, những trường hợp có dấu hiệu cố tình chây ì và lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp.
Đây cũng là hướng được Đại tá Nguyễn Thái Hoàng, Phó Cục trưởng Cục Tổ chức cán bộ (Bộ Công an) đề cập khi kiến nghị tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa BHXH Việt Nam với cơ quan thuế, ngân hàng và lực lượng Công an theo Đề án 06. Dữ liệu khi được kết nối đúng cách có thể trở thành công cụ cảnh báo sớm, hỗ trợ xác minh và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ.
Theo ông Phạm Minh Huân, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ), pháp luật hiện hành về xử lý doanh nghiệp nợ BHXH cơ bản đã có các công cụ từ đôn đốc, thanh tra, xử phạt đến thu hồi. Điểm đáng quan tâm hiện nay nằm ở khả năng kết nối giữa những công cụ đó. Một quy định chỉ phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành hành động liên tục qua từng khâu xử lý.
Thực tế có thể hình dung như một chuỗi mắt xích: phát hiện khoản chậm đóng, xác định nguyên nhân, phân loại mức độ vi phạm, đôn đốc, thanh tra, xử phạt, cưỡng chế, khởi kiện hoặc chuyển hồ sơ xem xét trách nhiệm hình sự. Nếu một khâu bị ngắt, quá trình xử lý có thể dừng lại. Trong khoảng thời gian đó, khoản nợ tiếp tục tăng và điều kiện thu hồi ngày càng bất lợi.
“Điểm nghẽn cần tháo gỡ không nằm ở một khâu riêng lẻ mà ở sự liên kết giữa các khâu và giữa các cơ quan có thẩm quyền. Cần tạo cơ chế để khi doanh nghiệp bắt đầu có dấu hiệu chậm đóng, thông tin được phát hiện và chuyển nhanh sang các bước xử lý tiếp theo, tránh tình trạng khoản nợ kéo dài nhiều năm rồi mới tìm phương án giải quyết", ông Phạm Minh Huân nhận định.
![]() |
| Ông Phạm Minh Huân, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ). |
Đây là yêu cầu mang tính cấp thiết bởi thời gian có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi. Khi doanh nghiệp còn hoạt động, cơ quan chức năng có nhiều điều kiện để xác minh dòng tiền, tài sản, người đại diện và khả năng thực hiện nghĩa vụ. Khi doanh nghiệp đã giải thể, phá sản, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc người đại diện bỏ trốn, mỗi bước xác minh đều trở nên phức tạp hơn.
Vì vậy, ông Phạm Minh Huân cho rằng, các cơ quan chức năng cần sớm rà soát toàn bộ quy trình xử lý nợ BHXH, xác định những điểm đang bị đứt gãy để hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và thực thi. Cùng với đó là các công cụ đủ mạnh để can thiệp từ thời điểm khoản nợ mới phát sinh, tránh để doanh nghiệp có thời gian kéo dài tình trạng chậm đóng.
Bên cạnh đó, GS.,TS. Giang Thanh Long cũng đề xuất cơ quan BHXH cần lựa chọn một số vụ việc điển hình để xử lý nghiêm, tạo hiệu ứng răn đe trên diện rộng. Việc thực thi pháp luật cần được bắt đầu sớm, khi doanh nghiệp vẫn còn hoạt động, còn khả năng tài chính và còn điều kiện thực hiện nghĩa vụ. Một quyết định xử lý đúng thời điểm có giá trị phòng ngừa cao hơn nhiều so với việc truy thu khi doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán.
Ở góc độ rộng hơn, xử lý nợ BHXH cần chuyển từ tư duy giải quyết hậu quả sang quản trị rủi ro. Khoản nợ phát sinh phải được cảnh báo; doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường phải được phân loại; trường hợp cố tình vi phạm phải được xử lý nghiêm; doanh nghiệp thực sự khó khăn cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Mỗi nhóm đối tượng cần một cách xử lý, song tất cả phải nằm trong cùng một quy trình liên thông.
GS.,TS. Giang Thanh Long nhấn mạnh yêu cầu đặt quyền lợi người lao động ở vị trí trung tâm. Cùng với các biện pháp hỗ trợ tức thời khi quyền lợi bị ảnh hưởng, cơ quan chức năng cần đẩy nhanh quá trình thu hồi phần nợ còn khả năng thu hồi. Về lâu dài, việc tạo dựng niềm tin vào hệ thống BHXH cũng quan trọng như xử lý từng khoản nợ cụ thể.
Một hệ thống xử lý hiệu quả cần khiến doanh nghiệp hiểu rằng chậm đóng sẽ được phát hiện sớm, kéo dài sẽ phải trả giá cao hơn và cố tình vi phạm có thể dẫn tới trách nhiệm pháp lý tương xứng. Người lao động cần biết mình có quyền gì, khoản đóng của mình đang được thực hiện ra sao và phải làm gì khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Từ đó, bài toán nợ BHXH cần được đặt lại theo hướng chủ động phát hiện sớm, xử lý kịp thời, ngăn khoản nợ tích tụ và thu hồi khi doanh nghiệp vẫn còn khả năng thực hiện nghĩa vụ. Khi các khâu được kết nối thành một quy trình xuyên suốt, hiệu quả thực thi pháp luật sẽ được nâng lên, quyền lợi người lao động cũng có thêm cơ hội được bảo vệ ngay từ khi phát sinh rủi ro.
Tuy nhiên, với những khoản nợ đã kéo dài, doanh nghiệp không hợp tác hoặc quyền lợi của người lao động đã bị xâm phạm, các biện pháp hành chính có thể chưa đủ để giải quyết tận gốc. Khi đó, một cơ chế tư pháp đủ rõ, đủ mạnh và có sự phối hợp giữa các cơ quan sẽ trở thành “mắt xích” quan trọng để đưa quyền lợi của người lao động từ yêu cầu chính đáng thành kết quả được bảo vệ trên thực tế.
(Còn tiếp)