![]() |
| Mở rộng lưới an sinh đối với nông dân. |
Đưa lưới an sinh đến gần từng hộ nông dân
Với người nông dân, rủi ro về sức khỏe, tuổi già hay suy giảm khả năng lao động có thể tác động trực tiếp đến sinh kế của cả gia đình. Khác với lao động có quan hệ lao động ổn định, nhiều nông dân tự tổ chức sản xuất, tự tạo thu nhập và tự tích lũy cho tương lai. Bởi vậy, mở rộng BHXH tự nguyện, BHYT có ý nghĩa tạo thêm một lớp bảo vệ trước những rủi ro dài hạn.
Yêu cầu này càng rõ khi mục tiêu đến năm 2030 đặt ra khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện đạt khoảng 5%. Mục tiêu bao phủ gắn trực tiếp với khả năng đưa chính sách tới những nhóm lao động trước đây còn đứng ngoài hệ thống an sinh.
Tuy nhiên, mở rộng chính sách an sinh tới nông dân có những đặc thù riêng. Thu nhập của nhiều hộ phụ thuộc mùa vụ, giá nông sản, thị trường tiêu thụ, thời tiết và chi phí đầu vào. Khi dòng tiền thiếu ổn định, quyết định dành một phần thu nhập hiện tại cho quyền lợi trong tương lai thường phải cạnh tranh với nhiều nhu cầu thiết yếu của gia đình và hoạt động sản xuất.
Chia sẻ tại Hội thảo tham vấn ý kiến Hồ sơ Đề án: “Phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong tuyên truyền, vận động nông dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình giai đoạn 2026-2030”, TS. Lê Quang Thuận, Trưởng Ban chính sách bảo hiểm, Viện Chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính, cho rằng cần phân tích sâu hơn “khoảng cách từ nhận biết đến tham gia” để tìm được giải pháp mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện theo hướng thực chất và bền vững.
![]() |
| TS. Lê Quang Thuận, Trưởng Ban chính sách bảo hiểm, Viện Chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính chia sẻ tại Hội thảo. |
Khoảng cách này có thể xuất hiện ở nhiều điểm. Có người đã biết chính sách nhưng chưa hiểu đầy đủ quyền lợi; có người nhận thức được lợi ích song chưa cân đối được nguồn đóng; cũng có trường hợp chưa coi an sinh dài hạn là nhu cầu cấp thiết. Vì vậy, đưa chính sách đến người nông dân cần tiến thêm một bước, từ truyền đạt thông tin sang hỗ trợ họ lựa chọn phương án phù hợp.
Đây cũng là lý do cách thức tuyên truyền cần thay đổi theo hướng sát từng nhóm nông dân. Ông Đào Duy Hữu, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Bắc Ninh đề xuất phương châm “đúng người, đúng nhu cầu, đúng thời điểm, đúng phương thức”, gắn tuyên truyền nhóm nhỏ với tư vấn hộ gia đình, vận động trực tiếp và đồng hành duy trì trong quá trình tham gia.
Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm đa dạng của khu vực nông thôn. Hộ sản xuất có thu nhập tương đối ổn định sẽ có khả năng tham gia khác hộ sản xuất nhỏ hoặc lao động thời vụ. Người chưa từng tham gia cần được giải thích quyền lợi, trong khi người từng tham gia rồi gián đoạn cần được xác định nguyên nhân để có giải pháp hỗ trợ phù hợp hơn.
Thực tế tại Bắc Ninh cho thấy tiềm năng của việc đưa mạng lưới an sinh xuống sát cơ sở. Hội Nông dân tỉnh đã phối hợp đào tạo, đưa vào hoạt động 214 nhân viên tư vấn là cán bộ, hội viên ưu tú. Từ tháng 3 đến tháng 7/2026, lực lượng này đã hỗ trợ phát triển 2.260 trường hợp tham gia với số tiền trên 4,4 tỷ đồng.
Điểm đáng chú ý của mô hình nằm ở việc tạo ra cầu nối ngay trong cộng đồng. Cán bộ Hội hiểu hoàn cảnh hội viên, điều kiện sản xuất, khả năng thu nhập và những băn khoăn của từng hộ. Chính sự gần gũi đó giúp chính sách an sinh được giải thích bằng những quyền lợi cụ thể, gắn với đời sống thay vì dừng lại ở những quy định mang tính phổ quát.
Theo TS. Lê Quang Thuận, Hội Nông dân Việt Nam giữ vai trò trung tâm, nòng cốt làm cầu nối đưa chính sách đến gần nông dân, thay đổi nhận thức, phân loại đối tượng và phát huy mô hình “nông dân vận động nông dân”. Đây có thể trở thành một mắt xích quan trọng để mở rộng an sinh tới những nhóm lao động khó tiếp cận bằng phương thức tuyên truyền truyền thống.
Mở rộng bao phủ gắn với giữ người dân ở lại hệ thống
Đưa thêm người nông dân vào hệ thống mới là bước khởi đầu. Với BHXH tự nguyện, quyền lợi được hình thành từ quá trình tích lũy dài hạn, vì vậy hiệu quả chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng duy trì tham gia. Nếu người dân tham gia trong thời gian ngắn rồi gián đoạn, mục tiêu tạo dựng điểm tựa an sinh khi về già sẽ khó đạt được như kỳ vọng.
Bởi vậy, TS. Lê Quang Thuận cho rằng hệ thống chỉ tiêu cần chuyển sang đo lường cả tỷ lệ duy trì bền vững. Trọng tâm cần dịch chuyển từ tăng số lượng sang mở rộng bao phủ gắn với tính bền vững, qua đó phản ánh thực chất hiệu quả của chính sách.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu theo dõi sâu hơn hành trình tham gia của người dân. Bên cạnh số người phát triển mới, cần xác định bao nhiêu người tiếp tục đóng, nhóm nào có nguy cơ gián đoạn và nguyên nhân xuất phát từ thu nhập, nhận thức hay quá trình tổ chức thực hiện. Từ đó, chính sách hỗ trợ có thể đến đúng nhóm cần hỗ trợ nhất.
Dữ liệu trở thành nền tảng để thực hiện yêu cầu đó. Bà Đặng Minh Thư, Phòng Bảo hiểm xã hội, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội, Bộ Nội vụ đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu hội viên trên ứng dụng “Nông dân Việt Nam” và kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm và dân cư.
Khi dữ liệu được kết nối, mạng lưới Hội có thể nhận diện hội viên chưa tham gia, người có nguy cơ gián đoạn hoặc những trường hợp cần được tiếp cận trở lại. Hoạt động tuyên truyền nhờ đó chuyển dần từ diện rộng sang có trọng tâm. Công cụ số cũng giúp cán bộ cơ sở theo dõi quá trình tham gia để việc đồng hành diễn ra thường xuyên hơn.
Cùng với dữ liệu, chất lượng người tư vấn quyết định khả năng chính sách đi sâu vào từng hộ. Ông Đào Duy Hữu cho rằng cần chuẩn hóa đội ngũ tuyên truyền viên, cung cấp bộ tài liệu thống nhất, trang bị công cụ số quản lý hội viên chưa tham gia hoặc có nguy cơ gián đoạn, đồng thời xây dựng mô hình “Chi hội nông dân an sinh”.
Mở rộng lưới an sinh cũng cần nguồn lực tương xứng. Bà Đặng Minh Thư lưu ý cần làm rõ nhu cầu kinh phí theo từng nhóm nhiệm vụ, xác định cơ cấu nguồn lực từ ngân sách trung ương, địa phương, nguồn lồng ghép từ các chương trình và những nguồn hợp pháp khác gắn với trách nhiệm triển khai.
Điều này đặc biệt quan trọng khi trọng tâm thực hiện được đưa xuống tận cơ sở. Theo ông Đào Duy Hữu, nhiệm vụ giao xuống cơ sở cần đi cùng nguồn lực, công cụ và cơ chế phối hợp rõ ràng. Một mạng lưới gần dân sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu cán bộ thiếu công cụ quản lý, tài liệu tư vấn hoặc điều kiện để thường xuyên đồng hành với hội viên.
Ở chiều chính sách, hỗ trợ từ ngân sách có ý nghĩa tạo thêm khả năng tiếp cận cho người nông dân, song cần được đặt trong một hệ thống giải pháp đồng bộ. Mức hỗ trợ phù hợp, phương thức đóng thuận tiện, tư vấn sát nhu cầu, dữ liệu liên thông và cơ chế nhắc đóng có thể tạo thành chuỗi hỗ trợ giúp người dân bước vào hệ thống rồi duy trì tham gia lâu dài.