![]() |
| Chuyên gia nêu lý do cần mô hình phục hồi chức năng mới trong bối cảnh già hóa dân số. Ảnh: Trà Giang |
Tại hội thảo khoa học quốc tế về ứng dụng robot trong phục hồi chức năng, các chuyên gia cho rằng công nghệ robot có thể mở ra hướng tiếp cận mới, phát huy giá trị khi được đặt trong chương trình điều trị toàn diện, dựa trên bằng chứng và lấy người bệnh làm trung tâm.
Tại sao cần một mô hình phục hồi chức năng mới?
Ngày 14/8, Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Ứng dụng robot trong phục hồi chức năng - Xu hướng và triển khai tại Việt Nam”, với sự tham gia của các chuyên gia, bác sĩ, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phục hồi chức năng.
Việt Nam hiện đang thuộc nhóm quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh trên thế giới. Theo đó, người từ 60 tuổi trở lên hiện chiếm khoảng 16% dân số và dự báo đến năm 2036 sẽ vượt 20%, đưa Việt Nam chuyển sang giai đoạn dân số già.
PGS.TS.BS. Phan Minh Hoàng, Giám đốc Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh, nhận định tuổi thọ ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của các bệnh mạn tính, tim mạch, thần kinh, đột quỵ, bệnh lý cơ xương khớp và những tình trạng gây hạn chế vận động đang đặt ra nhu cầu ngày càng lớn về phục hồi chức năng. Già hóa dân số không chỉ làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe mà còn đòi hỏi ngành y tế phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng vận động, tự chăm sóc và tái hòa nhập đời sống của người bệnh sau điều trị.
Trong bối cảnh đó, phục hồi chức năng không còn là một khâu “đi sau” điều trị mà trở thành một phần quan trọng của quá trình chăm sóc sức khỏe lâu dài. Bài toán đặt ra là làm thế nào để người bệnh được tập luyện đủ cường độ, đủ số lần, chính xác và có thể lượng giá tiến bộ một cách khách quan, trong khi nguồn nhân lực luôn có giới hạn. Theo ông Hoàng, ứng dụng robot cần được nhìn nhận trong tiến trình hiện đại hóa toàn diện ngành phục hồi chức năng, không phải để thay thế nhân viên y tế mà để hỗ trợ nâng cao hiệu quả điều trị.
Khi dân số già đi nhanh, số người sống chung với bệnh mạn tính và di chứng thần kinh có xu hướng gia tăng, mục tiêu của y học cũng không chỉ dừng ở cứu sống mà còn phải giúp người bệnh sống độc lập hơn sau điều trị. Đây là khoảng trống mà phục hồi chức năng cần giải quyết trong những năm tới. Trong hành trình đó, robot có thể trở thành một công cụ giúp mở rộng giới hạn của y học, nếu được lựa chọn và sử dụng dựa trên mục tiêu điều trị, bằng chứng khoa học và nhu cầu thực tế của từng người bệnh.
Theo BS nội trú Uông Thị Vân Anh, Trung tâm Phục hồi chức năng - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, robot phục hồi chức năng phát triển nhanh, từ robot hỗ trợ dáng đi, robot chi trên đến các hệ thống điều khiển bằng tín hiệu điện cơ. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng vẫn là robot có thực sự mang lại hiệu quả tốt hơn so với trị liệu truyền thống hay giá trị nằm ở cách sử dụng thiết bị.
Câu hỏi này cũng là điểm khởi đầu để nhìn nhận robot không phải như một “chiếc máy thay thế con người”, mà là một thành phần của mô hình phục hồi chức năng mới.
Về mặt sinh học, quá trình phục hồi vận động dựa nhiều vào khả năng mềm dẻo thần kinh - tức khả năng hệ thần kinh tái tổ chức và hình thành những kết nối mới sau tổn thương. Các nguyên lý quan trọng gồm tập luyện lặp lại, đủ cường độ, đặc hiệu theo nhiệm vụ và phù hợp với thời điểm can thiệp.
Robot có thể hỗ trợ thực hiện những yêu cầu này với độ chính xác và khả năng lặp lại cao hơn. Đồng thời, thiết bị có thể ghi nhận số bước đi, lực cơ, tầm vận động, mức trợ lực hay thời gian hoàn thành nhiệm vụ, qua đó cung cấp dữ liệu định lượng để theo dõi tiến triển và điều chỉnh chương trình tập luyện.
Từ “tập nhiều hơn” đến tập đúng và có thể đo lường
Một trong vấn đề được quan tâm nhiều tại hội thảo là người bệnh sau đột quỵ.
![]() |
| Mô hình robot hỗ trợ người bệnh phục hồi chức năng. Ảnh: BV |
Theo PGS.TS. Lương Tuấn Khanh, Viện Phục hồi chức năng - Bệnh viện Bạch Mai, phục hồi sau đột quỵ đòi hỏi quá trình luyện tập lặp lại, có nhiệm vụ cụ thể và đủ cường độ. Robot có ưu thế trong việc hỗ trợ người bệnh thực hiện nhiều lần các động tác, đồng thời giảm bớt một phần khối lượng công việc cho kỹ thuật viên.
Đáng chú ý, bằng chứng quốc tế cũng đang ngày càng rõ hơn. Một tổng quan Cochrane năm 2018 tổng hợp 45 thử nghiệm với hơn 1.600 người bệnh cho thấy robot hỗ trợ chi trên có thể cải thiện chức năng cánh tay và khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, hiệu quả còn phụ thuộc vào loại robot, cường độ tập luyện và giai đoạn bệnh.
Một nghiên cứu đa trung tâm ngẫu nhiên có đối chứng RATULS trên 770 người bệnh đột quỵ cũng được đưa ra như một bằng chứng quan trọng để nhìn nhận thận trọng hơn về hiệu quả của robot. Điều này cho thấy không thể chỉ dựa vào việc “có robot” để mặc định rằng kết quả điều trị sẽ tốt hơn; hiệu quả phụ thuộc vào cách thiết kế chương trình và liều lượng tập luyện.
Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Lương Tuấn Khanh thực hiện nghiên cứu phục hồi chức năng chi dưới bằng hệ thống robot GTR-A tại Viện Phục hồi chức năng - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 2 đến tháng 11/2025, trên 32 người bệnh. Đây là nghiên cứu tiến cứu, so sánh trước - sau, không đối chứng.
Kết quả được trình bày tại hội thảo cho thấy cả nhóm tập thụ động và nhóm tập chủ động có trợ giúp đều có cải thiện về khả năng đi lại, thăng bằng và vận động; trong đó nhóm chủ động có trợ giúp ghi nhận mức cải thiện điểm thăng bằng tốt hơn.
Những kết quả này củng cố một hướng tiếp cận: robot không nhằm thay thế hoàn toàn phương pháp phục hồi chức năng truyền thống mà giúp tăng “liều” tập luyện, tạo điều kiện để người bệnh chủ động hơn và cung cấp thêm dữ liệu cho quá trình điều trị.
Robot hỗ trợ, người bệnh mới là trung tâm
Từ thực tiễn triển khai tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, BS nội trú Uông Thị Vân Anh cho biết đơn vị hiện sử dụng đồng thời hai hệ thống robot là Lokomat và LUNA-EMG, tập trung vào các nhóm bệnh nhân thần kinh như đột quỵ, tổn thương tủy sống và chấn thương sọ não.
Điểm đáng chú ý trong mô hình này là robot không được đặt ở vị trí trung tâm. Người bệnh được quản lý theo mô hình đa chuyên khoa; bác sĩ phục hồi chức năng đánh giá và xây dựng mục tiêu, kỹ thuật viên vật lý trị liệu và hoạt động trị liệu triển khai chương trình, điều dưỡng phối hợp theo dõi. Robot chỉ được chỉ định khi thực sự giúp đạt mục tiêu điều trị nhanh hơn hoặc hiệu quả hơn so với trị liệu thông thường.
Quan điểm này cũng tương đồng với nhận định của TTƯT.BS Đinh Quang Thanh, Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh. Theo ông, câu hỏi quan trọng trong y học chứng cứ không phải robot có thể làm được gì, mà là robot có thực sự cải thiện kết quả điều trị cho người bệnh hay không.
Do đó, việc lựa chọn robot cần dựa trên bằng chứng khoa học, mục tiêu điều trị, giai đoạn bệnh và đặc điểm từng người bệnh. Robot cũng không thể đứng riêng mà cần được tích hợp với vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu và các can thiệp khác trong một chương trình phục hồi đa chuyên ngành.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu phục hồi chức năng sẽ tiếp tục tăng theo quá trình già hóa dân số. Một mô hình chỉ dựa vào thời gian và sức người khó có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu về cường độ, tính lặp lại và lượng giá ngày càng cao.