Nghị định áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; người sử dụng lao động, bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc theo thỏa thuận và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Theo Nghị định số 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng so với quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ được quy định như sau:
![]() |
Xác định mức lương tối thiểu theo địa bàn hoạt động
Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng được xác định căn cứ vào địa bàn hoạt động của người sử dụng lao động.
Theo đó, người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với vùng đó.
Trường hợp người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên nhiều địa bàn với các mức lương tối thiểu khác nhau thì từng đơn vị, chi nhánh áp dụng mức lương tối thiểu tương ứng với địa bàn nơi đơn vị, chi nhánh hoạt động.
Đáng chú ý, đối với người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do hoặc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau, mức lương tối thiểu được áp dụng theo địa bàn có mức cao nhất.
Đối với địa bàn có sự thay đổi về tên gọi hoặc chia tách, người sử dụng lao động tiếp tục áp dụng mức lương tối thiểu của địa bàn trước khi thay đổi cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
Trường hợp địa bàn mới được thành lập từ một hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu của địa bàn có mức cao nhất cho đến khi Chính phủ ban hành quy định mới.
Danh mục cụ thể các địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu từ ngày 1/1/2027 được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 399/2026/NĐ-CP.
![]() |
| Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu đặt ra yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm thực hiện đúng mức lương tối thiểu mới và duy trì các quyền lợi đã thỏa thuận hợp pháp với người lao động. |
Tiền lương theo các hình thức trả lương không được thấp hơn mức tối thiểu
Nghị định quy định mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, trả lương đối với hình thức trả lương theo tháng.
Theo đó, mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.
Tương tự, mức lương tối thiểu giờ là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận, trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ. Mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ.
Đối với người lao động hưởng lương theo tuần, theo ngày, theo sản phẩm hoặc lương khoán, Nghị định yêu cầu mức lương sau khi quy đổi theo tháng hoặc theo giờ không được thấp hơn mức lương tối thiểu tương ứng.
Việc quy đổi được thực hiện trên cơ sở thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định của pháp luật lao động.
Cụ thể, mức lương quy đổi theo tháng được xác định bằng mức lương theo tuần nhân với 52 tuần rồi chia cho 12 tháng; hoặc mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng. Đối với lương sản phẩm, lương khoán, mức quy đổi là tiền lương thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường của tháng.
Đối với mức lương quy đổi theo giờ, tiền lương theo tuần hoặc theo ngày được chia cho số giờ làm việc bình thường tương ứng. Trường hợp trả lương theo sản phẩm hoặc lương khoán, mức lương được tính bằng tiền lương thực hiện chia cho số giờ làm việc bình thường để sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện nhiệm vụ khoán.
Không được cắt giảm các chế độ tiền lương của người lao động
Một nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 399/2026/NĐ-CP là quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc rà soát, điều chỉnh các thỏa thuận về tiền lương khi mức lương tối thiểu mới có hiệu lực.
Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm rà soát các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của đơn vị để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với mức lương tối thiểu mới.
Trong quá trình thực hiện, người sử dụng lao động không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm; chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.
Đồng thời, đối với những nội dung đã thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác có lợi hơn cho người lao động so với quy định tại Nghị định, các bên tiếp tục thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trong đó, Nghị định đề cập đến các thỏa thuận về chế độ trả lương đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu.
Đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, các thỏa thuận về mức lương cao hơn ít nhất 5% so với công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường tiếp tục được thực hiện.
Tương tự, đối với công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, các thỏa thuận về mức lương cao hơn ít nhất 7% so với công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường cũng tiếp tục được duy trì, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
| Nghị định số 399/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu đặt ra yêu cầu người sử dụng lao động chủ động rà soát, điều chỉnh chính sách tiền lương, bảo đảm thực hiện đúng mức lương tối thiểu mới và duy trì các quyền lợi đã thỏa thuận hợp pháp với người lao động. |