![]() |
| Theo Bộ Y tế, 96% người điều trị ARV đã có thẻ BHYT. |
BHYT tạo điểm tựa duy trì điều trị ARV
Gần 40 năm ứng phó với HIV/AIDS, Việt Nam đã từng bước xây dựng mạng lưới chăm sóc, điều trị rộng khắp, đưa thuốc kháng virus ARV đến ngày càng nhiều người bệnh. Hiệu quả của điều trị được thể hiện qua khả năng kiểm soát tải lượng virus, kéo dài tuổi thọ, cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời giảm đáng kể nguy cơ lây truyền HIV trong cộng đồng.
Theo Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, tính đến giữa tháng 6/2026, cả nước có 514 cơ sở y tế triển khai điều trị HIV, bao gồm các cơ sở trong trại giam. Tổng số bệnh nhân đang duy trì điều trị ARV đạt 191.706 người, gồm 189.871 người lớn, 1.835 trẻ em. Quy mô này cho thấy mạng lưới điều trị đã bao phủ một lượng lớn người nhiễm HIV.
Đáng chú ý, 95,6% bệnh nhân điều trị ARV đạt mức ức chế tải lượng virus dưới ngưỡng, vượt chỉ tiêu Chiến lược quốc gia. Sau gần bốn thập kỷ, điều trị ARV đã góp phần cứu sống hơn 500.000 người nhiễm HIV. Đằng sau những con số ấy là sự thay đổi căn bản về khả năng kiểm soát HIV, giúp người bệnh duy trì sức khỏe, học tập, lao động, hòa nhập cộng đồng.
Hiệu quả điều trị cũng là cơ sở khoa học của thông điệp K=K, tức “không phát hiện = không lây truyền”. Khi người nhiễm HIV tuân thủ điều trị ARV theo chỉ định, duy trì tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện, nguy cơ lây truyền HIV qua đường tình dục được loại bỏ. Đây là động lực quan trọng giúp người bệnh kiên trì với hành trình điều trị lâu dài.
Để kết quả ấy được duy trì, một yêu cầu mang tính quyết định là bảo đảm người bệnh tiếp cận thuốc ARV liên tục. Việc bỏ thuốc, uống thuốc thất thường hoặc gián đoạn điều trị có thể khiến tải lượng virus tăng trở lại, làm suy giảm hiệu quả điều trị. Khi đó, lợi ích của K=K cũng mất đi, đồng thời nguy cơ tiến triển bệnh, lây truyền HIV gia tăng.
PGS.TS. Phan Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, cảnh báo việc tự ý dừng thuốc, uống thuốc thiếu đều đặn hoặc gián đoạn nguồn cung có thể dẫn tới tình trạng kháng thuốc. Người bệnh khi ấy có nguy cơ phải chuyển sang phác đồ bậc 2, bậc 3 phức tạp hơn, với chi phí có thể cao gấp 15-20 lần phác đồ ban đầu.
Kháng thuốc còn kéo theo nhiều hệ lụy đối với sức khỏe người bệnh. Hệ miễn dịch suy giảm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, bệnh có thể tiến triển sang AIDS, nguy cơ tử vong tăng lên. Chi phí điều trị cao hơn cũng tạo thêm áp lực cho gia đình người bệnh, hệ thống y tế, quỹ BHYT trong quá trình bảo đảm chăm sóc lâu dài.
Trong bối cảnh đó, BHYT ngày càng trở thành điểm tựa quan trọng để duy trì chuỗi điều trị. Hiện 96% người đang điều trị ARV đã có thẻ BHYT. Tỷ lệ bao phủ cao giúp giảm gánh nặng chi phí đối với người bệnh, đồng thời tạo nguồn tài chính trong nước ổn định hơn khi các chương trình phòng, chống HIV/AIDS bước vào giai đoạn giảm dần phụ thuộc nguồn viện trợ quốc tế.
Vai trò của BHYT càng rõ khi nguồn viện trợ dành cho HIV/AIDS đang có xu hướng thu hẹp. Một số nguồn lực quốc tế từng hỗ trợ thuốc, dịch vụ điều trị đang giảm dần, trong khi thuốc ARV chuyên biệt dành cho trẻ nhiễm HIV vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào tài trợ nước ngoài. Bảo đảm nguồn tài chính trong nước do đó trở thành yêu cầu cấp thiết để giữ vững thành quả điều trị.
Thách thức cũng xuất hiện ở nhóm lao động thường xuyên thay đổi việc làm, nơi cư trú. Quá trình tham gia BHYT có thể bị gián đoạn khi người lao động chuyển doanh nghiệp, ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận thuốc đúng lịch. Nỗi lo lộ thông tin về tình trạng HIV cũng khiến một số người tìm đến cơ sở điều trị xa nơi làm việc, phát sinh thêm chi phí, thời gian đi lại.
Thực tế đã ghi nhận trường hợp người lao động phải di chuyển hơn 100 km mỗi tháng sang địa phương khác để nhận thuốc ARV nhằm giữ kín thông tin cá nhân. Khoảng cách địa lý, chi phí đi lại, áp lực việc làm có thể trở thành những rào cản khiến quá trình điều trị bị gián đoạn. Điều này đặt ra yêu cầu thiết kế dịch vụ thuận tiện hơn cho người bệnh.
Mở rộng BHYT, giữ liền mạch hành trình điều trị
Tại Hội thảo “Định hướng nhiệm vụ, giải pháp tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030”, các chuyên gia xác định tăng cường nguồn lực trong nước là một trong những giải pháp then chốt. Trong đó, mở rộng bao phủ BHYT, tăng vai trò chi trả của quỹ BHYT đối với khám chữa bệnh, thuốc ARV được xem là hướng đi căn cơ để duy trì điều trị bền vững.
Từ mức 96% hiện nay, mục tiêu được đặt ra là tiến tới bao phủ thẻ BHYT cho toàn bộ người nhiễm HIV. Khi người bệnh duy trì BHYT liên tục, khả năng tiếp cận thuốc, xét nghiệm, theo dõi điều trị sẽ ổn định hơn. Đây cũng là cơ sở giảm nguy cơ gián đoạn điều trị do khó khăn tài chính, nhất là với những người có thu nhập thấp hoặc việc làm thiếu ổn định.
Song nguồn tài chính cần đi cùng cách tổ chức dịch vụ thuận tiện. Một giải pháp được đề xuất là mở rộng cấp thuốc ARV nhiều tháng, với chu kỳ 3-6 tháng/lần cho các trường hợp phù hợp. Cách thức này giúp giảm số lần người bệnh phải đến cơ sở y tế, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, đồng thời giảm áp lực lên mạng lưới điều trị.
Các mô hình khám ngoài giờ, cuối tuần, tư vấn y tế từ xa cũng cần được mở rộng để phù hợp với điều kiện làm việc, sinh hoạt của người bệnh. Việc đưa quản lý, điều trị ARV về gần tuyến y tế cơ sở sẽ giúp dịch vụ tiếp cận gần nơi cư trú hơn, tạo thuận lợi cho người bệnh duy trì lịch khám, nhận thuốc đều đặn trong thời gian dài.
Đối với lao động di biến động, yêu cầu quan trọng là xây dựng cơ chế chuyển tiếp điều trị thông suốt khi thay đổi nơi làm việc hoặc nơi cư trú. Hồ sơ điều trị, thông tin cần thiết, nguồn thuốc cần được kết nối giữa các cơ sở y tế, hạn chế khoảng trống trong quá trình chuyển tuyến. Quyền lợi BHYT cũng cần được duy trì xuyên suốt quá trình dịch chuyển này.
Một mắt xích khác nằm ở môi trường làm việc. Bảo vệ bí mật thông tin, quyền lao động của người nhiễm HIV có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng duy trì điều trị. Thực hiện đầy đủ quy định của Luật Phòng, chống HIV/AIDS, giảm kỳ thị tại doanh nghiệp, phổ biến rộng rãi thông điệp K=K sẽ giúp người lao động yên tâm điều trị, duy trì công việc, ổn định cuộc sống.
Các tổ chức cộng đồng cũng giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp cận những trường hợp có nguy cơ bỏ trị. Thông qua tư vấn tâm lý, giải thích tác dụng phụ của thuốc, nhắc lịch dùng thuốc, hỗ trợ kết nối trở lại cơ sở y tế, lực lượng cộng đồng góp phần giữ người bệnh trong chuỗi chăm sóc. Cơ chế đặt hàng dịch vụ cộng đồng được kỳ vọng tạo nguồn lực bền vững cho hoạt động này.
Mục tiêu chấm dứt dịch AIDS trước năm 2030 phụ thuộc lớn vào khả năng giữ từng người bệnh trong chuỗi điều trị liên tục. Với tỷ lệ 95,6% bệnh nhân đạt ức chế tải lượng virus cùng 96% người điều trị ARV có thẻ BHYT, Việt Nam đã có nền tảng quan trọng. Mở rộng bao phủ BHYT sẽ góp phần bảo vệ thành quả ấy, tiến gần hơn tới đích kiểm soát bền vững HIV/AIDS.