![]() |
| Trẻ em và người cao tuổi luôn là những nhóm cần đối tượng được quan tâm chăm sóc về y tế. Ảnh Thuỳ Linh |
Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Chăm lo sức khỏe nhân dân là một trong những nội dung quan trọng trong các chính sách an sinh được triển khai thời gian qua. Từ đầu tháng 9, các chỉ đạo điều hành của Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa định hướng chuyển mạnh từ tập trung vào khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, phát hiện sớm và quản lý sức khỏe lâu dài.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đẩy nhanh triển khai khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân.
Ngày 16/9, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Công văn số 1129/TTg-KGVX về triển khai Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 6/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân. Chính phủ đánh giá, thời gian qua các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai, Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành hướng dẫn về chuyên môn, tài chính, quản lý dữ liệu; nhiều địa phương đã chủ động tổ chức khám cho người dân. Tuy nhiên, tiến độ giữa các địa phương còn chưa đồng đều.
Theo chỉ đạo, các địa phương phải rà soát, cập nhật kế hoạch thực hiện đến hết năm 2026 theo từng nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên; xác định số người đã được khám, số người chưa được khám, đối tượng cần ưu tiên, năng lực của cơ sở y tế và tiến độ thực hiện theo từng tháng.
Đáng chú ý, người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu và các nhóm ưu tiên khác được đặt trong diện cần tập trung.
Việc tổ chức khám cũng phải tránh tình trạng chạy theo số lượng hoặc để một người dân được khám nhiều lần ở các chương trình khác nhau. Chính phủ yêu cầu các địa phương phối hợp, lồng ghép giữa khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí với kiểm tra sức khỏe học sinh, sinh viên, khám bệnh nghề nghiệp, khám sức khỏe cho người lao động và khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Cùng với đó, kết quả xét nghiệm, chẩn đoán còn giá trị lâm sàng phải được kế thừa, sử dụng; thống kê chính xác người đã được khám để tránh trùng lặp, lãng phí và thanh toán trùng. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực dành cho chăm sóc sức khỏe người dân.
Quan trọng hơn, khám sức khỏe không được dừng lại ở một lần kiểm tra. Thủ tướng yêu cầu gắn hoạt động khám với quản lý sức khỏe liên tục, toàn diện theo vòng đời; đẩy nhanh tạo lập, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử và đồng bộ dữ liệu trên VNeID. Dữ liệu khám sức khỏe từng bước được kết nối với dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT), kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Theo đó, Bộ Y tế được giao xây dựng, ban hành hướng dẫn chuyên môn về khám sàng lọc miễn phí theo nhóm tuổi, yếu tố nguy cơ, mô hình bệnh tật và lộ trình ưu tiên; hướng dẫn phát hiện sớm, quản lý yếu tố nguy cơ, bệnh mạn tính, chuyển tuyến và theo dõi những trường hợp có dấu hiệu bất thường.
Như vậy, một lần khám được định hướng trở thành điểm khởi đầu cho quá trình quản lý sức khỏe lâu dài, thay vì chỉ hoàn thành một chỉ tiêu về số người được khám.
Trẻ em, người cao tuổi trong nhóm được ưu tiên
Trong cách tiếp cận chăm sóc sức khỏe theo vòng đời, trẻ em và người cao tuổi tiếp tục là những nhóm cần được quan tâm.
Đối với trẻ em, việc liên thông điện tử đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ BHYT và thẻ căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi tạo điều kiện để trẻ sớm được xác lập quyền tiếp cận chính sách BHYT. Cùng với đó, việc Bộ Y tế đề xuất đưa các dịch vụ khám sức khỏe định kỳ, kiểm tra sức khỏe đầu năm học vào phạm vi chi trả của Quỹ BHYT cho các nhóm trẻ em là bước tiếp cận theo hướng gắn bảo hiểm với chăm sóc sức khỏe từ sớm.
Đối với người cao tuổi, khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc miễn phí được xác định là một trong những nhóm ưu tiên khi các địa phương triển khai chỉ đạo của Thủ tướng. Việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ, bệnh mạn tính và theo dõi sức khỏe thường xuyên có ý nghĩa đặc biệt đối với nhóm dân số này.
Nghị định số 350/2026/NĐ-CP của Chính phủ cũng quy định mức phụ cấp 60% đối với viên chức trực tiếp khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp người cao tuổi không tự phục vụ được; qua đó bổ sung chính sách đối với đội ngũ trực tiếp thực hiện công việc chăm sóc nhóm đối tượng này.
Củng cố y tế cơ sở, bảo đảm nguồn lực chăm sóc
Để chính sách chăm sóc sức khỏe chủ động đi vào thực chất, năng lực của hệ thống y tế, nhất là tuyến cơ sở, có ý nghĩa quan trọng.
Ngày 9/9, Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế. Chính sách áp dụng đối với viên chức, người lao động tham gia hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế; trong đó có nhân viên tại các đơn vị sự nghiệp công lập, trạm y tế xã, phường, đặc khu và nhân viên y tế trường học tại các cơ sở giáo dục công lập.
Các mức phụ cấp được quy định từ 30% đến 80% tùy theo công việc, địa bàn và tính chất hoạt động. Mức 80% áp dụng đối với một số công việc chuyên môn trực tiếp như khám, điều trị, xét nghiệm, chăm sóc người bệnh tâm thần, hồi sức cấp cứu, giải phẫu bệnh; đồng thời áp dụng đối với viên chức làm chuyên môn y tế tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng ở địa bàn biên giới, hải đảo và các địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn theo quy định. Nhân viên y tế trường học tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc nhóm hưởng mức phụ cấp 30%.
Việc tăng cường chính sách đối với đội ngũ y tế, nhất là tại tuyến cơ sở, tạo thêm điều kiện để hệ thống thực hiện các nhiệm vụ phòng bệnh, phát hiện sớm, quản lý bệnh mạn tính và theo dõi sức khỏe người dân. Đây cũng là mắt xích quan trọng khi hoạt động khám sức khỏe định kỳ được triển khai rộng hơn.
Cùng với nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận thuốc, thiết bị y tế và dịch vụ khám chữa bệnh cũng được đặt ra trong quá trình hoàn thiện chính sách y tế. Việc kiểm soát giá thuốc, bảo đảm nguồn cung, nâng cao hiệu quả mua sắm và đấu thầu có ý nghĩa trực tiếp đối với chi phí khám chữa bệnh và quyền lợi của người bệnh.
Theo hướng này, chăm sóc sức khỏe không chỉ là câu chuyện của bệnh viện mà liên quan đến cả mạng lưới y tế cơ sở, nguồn nhân lực, thuốc, thiết bị, dữ liệu và cơ chế tài chính cho hoạt động khám, chữa bệnh.
Từ phòng bệnh đến bảo đảm an sinh
Nhìn tổng thể các chỉ đạo, chính sách được triển khai từ đầu tháng 9, chăm sóc sức khỏe đang được đặt trong mạch lớn hơn của chính sách an sinh xã hội, với trọng tâm là bảo đảm người dân được tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, giảm rủi ro bệnh tật và tăng khả năng bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Ở đó, khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc miễn phí tạo điểm đầu vào; y tế cơ sở đảm nhận vai trò phát hiện, quản lý và theo dõi; bệnh viện thực hiện khám chữa bệnh chuyên sâu; BHYT góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính; còn dữ liệu sức khỏe giúp kết nối các khâu trong quá trình quản lý sức khỏe người dân.
Đáng chú ý, Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương phân định rõ nguồn kinh phí thực hiện việc khám sức khỏe, bảo đảm đúng quy định về giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu, mua sắm, thanh toán và quyết toán; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa thất thoát, lãng phí, tiêu cực và trục lợi chính sách.
Điều này cho thấy chăm sóc sức khỏe đang được chuyển dần từ việc xử lý nhu cầu khi người dân mắc bệnh sang chủ động phòng ngừa và quản lý sức khỏe. Từ một lần khám, người dân được hướng tới một quá trình theo dõi liên tục; từ một khoản chi chữa bệnh, nguồn lực được tính toán để đầu tư nhiều hơn cho phòng bệnh và phát hiện sớm; từ từng cơ sở y tế riêng lẻ, dữ liệu và nguồn lực được kết nối để hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn diện hơn.
Đây cũng là hướng tiếp cận gắn trực tiếp chính sách y tế với mục tiêu an sinh: bảo đảm người dân, nhất là các nhóm yếu thế, trẻ em và người cao tuổi, có khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp, được phát hiện bệnh sớm và giảm bớt gánh nặng chi phí khi phải điều trị.