![]() |
| Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định. |
Theo Nghị định, việc xác định vị trí việc làm phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; đồng thời phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.
Mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng. Việc cụ thể hóa nhiệm vụ theo từng lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành hoặc đối tượng phục vụ chỉ được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, không làm thay đổi tên gọi hoặc phát sinh vị trí việc làm mới.
Đối với vị trí việc làm quản lý, Nghị định quy định một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp có từ hai cấp phó trở lên thì việc phân công phụ trách từng lĩnh vực không làm phát sinh vị trí việc làm mới. Mỗi vị trí quản lý phải gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách.
Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.
Danh mục vị trí việc làm viên chức được chia thành ba nhóm gồm: vị trí việc làm quản lý; vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; và vị trí việc làm hỗ trợ theo các phụ lục ban hành kèm theo Nghị định.
Nghị định yêu cầu việc xác định và sử dụng vị trí việc làm không được làm phát sinh vị trí ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; không được thay đổi tên gọi, chia tách hoặc gộp các vị trí việc làm trong danh mục khung.
Đối với trường hợp một vị trí việc làm đồng thời có trong danh mục vị trí chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí hỗ trợ, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định áp dụng danh mục phù hợp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; tính chất sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành và vai trò của vị trí trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Trường hợp pháp luật chuyên ngành đã quy định danh mục vị trí việc làm viên chức của từng ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định quy định thống nhất bậc nghề nghiệp đối với từng vị trí việc làm trên phạm vi cả nước. Theo đó, bậc nghề nghiệp được chia thành 5 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là thấp nhất và bậc 5 là cao nhất.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập được xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm nhưng không vượt quá số bậc quy định tại các phụ lục của Nghị định.
Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ; việc thay đổi bậc nghề nghiệp không làm thay đổi vị trí việc làm đang đảm nhiệm và được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức.
Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức tiếp tục được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Theo đó, bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B; bậc 2 áp dụng loại A0; bậc 3 áp dụng loại A1; bậc 4 áp dụng loại A2.1 và bậc 5 áp dụng loại A3.1.
Đối với viên chức giữ chức vụ quản lý, việc xếp lương được thực hiện theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn hoặc vị trí hỗ trợ đang giữ, đồng thời được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quy định hiện hành.
Nghị định cũng quy định tỷ lệ viên chức được bố trí theo từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm. Cụ thể, đối với vị trí có bậc cao nhất là bậc 5, số viên chức ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế được giao; bậc 4 không vượt quá 40%; các bậc còn lại do đơn vị xác định. Đối với vị trí có bậc cao nhất là bậc 4, tỷ lệ bậc 4 không vượt quá 40%; trường hợp chỉ có hai bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50%.
Riêng các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoặc các trường hợp theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định tỷ lệ bố trí viên chức theo bậc nghề nghiệp khác với tỷ lệ chung, phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị.
Nghị định số 232/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.