![]() |
| Theo quy định pháp luật lao động hiện hành, thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian làm việc thực tế và thời gian công tác liên tục để hưởng các chế độ như phép năm, BHXH và nâng lương. |
Bà Nguyễn Thị Thu Hà (TP. Đà Nẵng) hỏi: Tôi đỗ viên chức tại trường THCS ngày 01/7/2025, chức danh Kế toán viên, mã ngạch 06.031. Trước đó, tôi đã làm hợp đồng kế toán trường công lập, thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc 12 năm, trong đó tôi nghỉ thai sản 2 lần, tổng thời gian 12 tháng.
Xin hỏi, khi thực hiện chuyển xếp lương thì thời gian nghỉ thai sản có phải là thời gian công tác theo đúng quy định, có đóng BHXH bắt buộc không? Đối tượng và điều kiện nghỉ thai sản đối với người lao động như thế nào?
Trả lời: Chế độ thai sản theo Luật BHXH năm 2024 được quy định chi tiết trong Thông tư số 12/2025/TT-BNV, cùng một số văn bản khác có liên quan.
1. Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản
- Lao động nữ mang thai, sinh con, mang thai hộ, nhờ mang thai hộ, hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
- Người lao động sử dụng các biện pháp tránh thai phải thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Lao động nam đang tham gia BHXH bắt buộc có vợ sinh con hoặc vợ mang thai hộ sinh con.
Điều kiện hưởng:
- Đối với lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ, người nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi: Phải đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con.
- Trường hợp lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên và phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Phải đóng BHXH bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên và đã đóng đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.
- Trường hợp lao động nữ phải điều trị vô sinh: Phải đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con.
* Cách xác định thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con: Nếu sinh con/nhận con trước ngày 15 của tháng, tháng đó không tính vào thời gian 12 hoặc 24 tháng liền kề. Nếu sinh con/nhận con từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng BHXH bắt buộc, tháng đó được tính vào thời gian 12 hoặc 24 tháng liền kề. Nếu tháng đó không đóng, thực hiện theo quy định trên.
Người lao động đủ điều kiện hưởng vẫn được hưởng chế độ thai sản dù đã chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận con. Lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản khi sinh con vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản. Trong một số trường hợp, cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng có thể được hưởng chế độ thai sản của mẹ nếu mẹ mất sau sinh hoặc không đủ sức khỏe chăm sóc con.
Thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian làm việc thực tế
Theo quy định pháp luật lao động hiện hành, thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian làm việc thực tế và thời gian công tác liên tục để hưởng các chế độ như phép năm, BHXH và nâng lương.
Đồng thời, theo quy định tại Nghị định số 85/2023/NĐ-CP, trường hợp người được tuyển dụng, tiếp nhận vào viên chức theo quy định tại Nghị định này mà trước đó đã có thời gian công tác theo đúng quy định của pháp luật, có đóng BHXH bắt buộc (nếu không liên tục mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần thì được cộng dồn) thì thời gian đó được tính làm căn cứ để xếp lương theo chức danh nghề nghiệp phù hợp với vị trí việc làm được tuyển dụng, tiếp nhận nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định.
Theo đó thời gian để tính làm căn cứ để xếp lương phải phù hợp với vị trí việc làm được tuyển dụng, tiếp nhận.