![]() |
| Theo cơ quan quản lý, giữ mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp 60% để đảm bảo an sinh và động lực việc làm. |
Mức trợ cấp 60% được tính toán hài hòa nhiều mục tiêu
Theo quy định mới, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp. Điểm đáng chú ý là Luật Việc làm năm 2025 đã điều chỉnh cách xác định thời gian đóng theo hướng linh hoạt hơn so với trước đây, nhằm phù hợp với thực tế thị trường lao động hiện đại, nơi người lao động có thể thay đổi việc làm hoặc gián đoạn quá trình tham gia bảo hiểm trong một khoảng thời gian nhất định.
Ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ) cho biết, Luật Việc làm năm 2013 trước đây quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp dựa trên bình quân tiền lương của “6 tháng liền kề” trước khi thất nghiệp. Tuy nhiên, cụm từ “liền kề” đôi khi gây cách hiểu cứng nhắc, chưa phản ánh đúng đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp và thực tế biến động việc làm của người lao động hiện nay.
Theo ông Tú, khác với các loại bảo hiểm ngắn hạn khác, bảo hiểm thất nghiệp có yếu tố tích lũy và bảo lưu. Toàn bộ thời gian người lao động đã tham gia nhưng chưa hưởng trợ cấp đều được cộng dồn, kể cả khi có thời gian nghỉ việc hoặc gián đoạn đóng bảo hiểm. Vì vậy, nếu yêu cầu quá trình đóng phải liên tục hoàn toàn sẽ gây bất lợi cho người lao động và không phù hợp với đặc điểm vận động linh hoạt của thị trường lao động.
“Luật mới xác định 6 tháng cuối cùng có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, không phụ thuộc việc quá trình tham gia có bị gián đoạn hay không. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng, vừa phù hợp với thực tế quá trình làm việc của người lao động hiện nay”, ông Trần Tuấn Tú nhấn mạnh.
Liên quan đến mức hưởng trợ cấp thất nghiệp 60%, ông Tú cho biết đây là mức được tính toán trên cơ sở hài hòa nhiều yếu tố, từ khả năng cân đối quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thông lệ quốc tế cho tới mục tiêu hỗ trợ an sinh nhưng không làm mất động lực quay lại làm việc của người lao động.
Hỗ trợ thất nghiệp phải gắn với cơ hội việc làm mới
Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mức trợ cấp thất nghiệp tối thiểu nên đạt khoảng 50% thu nhập trước khi thất nghiệp. Việt Nam hiện áp dụng mức 60%, cao hơn mức khuyến nghị quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người lao động vẫn cho rằng khoản hỗ trợ này chưa đủ để trang trải chi phí sinh hoạt, đặc biệt tại các đô thị lớn khi giá thuê nhà, điện nước và chi tiêu hằng ngày liên tục tăng cao.
Chị Nguyễn Thị Hồng, công nhân may tại Hà Nội, cho biết từng nhận trợ cấp thất nghiệp sau khi doanh nghiệp cắt giảm lao động cuối năm 2025. Mức trợ cấp chị nhận được khoảng hơn 3 triệu đồng/tháng trong khi tổng thu nhập trước đó đạt gần 9 triệu đồng. “Khoản trợ cấp giúp tôi trang trải phần nào tiền thuê trọ và sinh hoạt tối thiểu nhưng rõ ràng thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế. Tôi phải nhanh chóng tìm việc mới để ổn định cuộc sống, chứ không thể sống lâu bằng tiền trợ cấp”, chị Hồng chia sẻ.
Tương tự, anh Trần Văn Đức, lao động trong ngành da giày tại Bắc Ninh, cho biết mức lương đóng bảo hiểm của anh chỉ khoảng 6 triệu đồng/tháng, trong khi tổng thu nhập thực nhận có thể lên tới gần 11 triệu đồng nhờ tăng ca và các khoản phụ cấp. Khi thất nghiệp, mức trợ cấp được tính theo tiền lương đóng bảo hiểm nên chỉ nhận khoảng 3,6 triệu đồng/tháng. “Người lao động mong muốn mức hỗ trợ cao hơn, nhưng tôi nghĩ quan trọng nhất vẫn là có việc làm ổn định. Tiền trợ cấp chỉ giúp vượt qua giai đoạn khó khăn trước mắt”, anh Đức nói.
Theo ông Trần Tuấn Tú, thực trạng mức hưởng thấp hơn thu nhập thực tế chủ yếu xuất phát từ việc tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm chưa phản ánh đầy đủ tổng thu nhập của người lao động. Tại nhiều doanh nghiệp hiện nay, ngoài lương cơ bản còn có nhiều khoản phụ cấp, thưởng và hỗ trợ khác chưa được đưa vào nền lương đóng bảo hiểm.
Nguyên nhân là nếu tính đầy đủ các khoản này, cả người lao động và doanh nghiệp đều phải tăng mức đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, nhiều doanh nghiệp thường lựa chọn mức đóng tối thiểu để giảm chi phí. Điều này dẫn tới tình trạng khi xảy ra thất nghiệp, mức trợ cấp người lao động nhận được thấp hơn đáng kể so với thu nhập trước đó.
Dù vậy, các chuyên gia lao động cho rằng trợ cấp thất nghiệp vốn không nhằm thay thế hoàn toàn thu nhập mà chủ yếu hỗ trợ tạm thời để người lao động duy trì cuộc sống và có thời gian tìm kiếm việc làm mới. Nếu mức hưởng quá cao, chính sách có thể vô tình làm giảm động lực quay trở lại thị trường lao động.
| “Nếu nâng mức hưởng lên 70% hoặc 80%, một bộ phận lao động có thể kéo dài thời gian thất nghiệp thay vì tích cực tìm việc mới. Chính sách hiện nay được thiết kế để vừa đảm bảo hỗ trợ cần thiết, vừa khuyến khích người lao động sớm quay lại làm việc”, ông Trần Tuấn Tú phân tích. |
Bên cạnh trợ cấp bằng tiền, chính sách bảo hiểm thất nghiệp hiện nay còn bao gồm nhiều hỗ trợ khác như tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề và hỗ trợ học nghề để người lao động chuyển đổi công việc. Đây được xem là giải pháp quan trọng giúp người lao động thích ứng với yêu cầu mới của thị trường, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và tự động hóa diễn ra mạnh mẽ.
Theo các chuyên gia, về lâu dài, để nâng cao hiệu quả của chính sách bảo hiểm thất nghiệp, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiền lương đóng bảo hiểm theo hướng tiệm cận thu nhập thực tế, đồng thời tăng cường kết nối giữa trung tâm dịch vụ việc làm với doanh nghiệp nhằm hỗ trợ người lao động nhanh chóng quay lại thị trường lao động.