![]() |
| Việt Nam cần tìm thêm các nguồn lực mới, xây dựng cơ chế phân bổ hợp lý và ưu tiên những khoản chi tạo ra hiệu quả sức khỏe lâu dài. |
Khoảng trống tài chính trước sức ép già hóa
Chính sách BHYT đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Độ bao phủ ngày càng rộng giúp nhiều người dân tiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau, giảm nguy cơ rơi vào khó khăn vì chi phí điều trị. Tuy nhiên, nền tảng ấy đang chịu sức ép lớn từ thay đổi cơ cấu dân số và mô hình bệnh tật.
Bệnh không lây nhiễm hiện chiếm 81% số ca tử vong tại Việt Nam. Đây là nhóm bệnh thường đòi hỏi quá trình điều trị kéo dài, sử dụng thuốc liên tục và theo dõi lâu dài. Cùng với tốc độ già hóa dân số, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng, kéo theo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước và quỹ BHYT.
Một con số cho thấy rõ quy mô áp lực này là chi phí khám, chữa bệnh BHYT đã tăng khoảng 8 lần trong 14 năm, lên 123 nghìn tỷ đồng vào năm 2023. Khi nhu cầu khám chữa bệnh tiếp tục tăng, nguồn lực hiện có sẽ ngày càng khó đáp ứng đầy đủ những yêu cầu mới về chăm sóc sức khỏe.
Theo phân tích của Nhóm Nghiên cứu Công nghệ Y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE), khoảng trống tài khóa y tế có thể tăng từ 279 nghìn tỷ đồng lên 510 nghìn tỷ đồng vào năm 2030 nếu thiếu các giải pháp phù hợp. Khoảng cách này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một mô hình tài chính y tế bền vững hơn.
![]() |
| Thiết kế có sự hỗ trợ của AI. |
Nghị quyết số 72-NQ/TW đặt ra những mục tiêu có ý nghĩa trực tiếp với đời sống người dân, từ giảm chi tiền túi cho y tế, khám và sàng lọc sức khỏe định kỳ, củng cố y tế cơ sở đến hướng tới miễn phí khám, chữa bệnh cơ bản vào năm 2030. Mỗi mục tiêu đều cần một nền tảng tài chính đủ mạnh và ổn định.
Bài toán vì thế cần được nhìn từ cả phía nguồn thu và cách sử dụng tiền. Tăng chi ngân sách, điều chỉnh mức đóng BHYT theo lộ trình vẫn giữ vai trò quan trọng. Song song với đó, Việt Nam cần tìm thêm các nguồn lực mới, xây dựng cơ chế phân bổ hợp lý và ưu tiên những khoản chi tạo ra hiệu quả sức khỏe lâu dài.
Đưa nguồn thu từ sản phẩm có hại trở lại với y tế
Một hướng đi đang được quan tâm là sử dụng thêm nguồn thu từ các sản phẩm gây tác động bất lợi đến sức khỏe để đầu tư trở lại cho y tế. Thuế thuốc lá, rượu, bia, đồ uống có đường có thể trở thành một phần của lời giải tài chính, đồng thời tạo thêm động lực cho các chính sách phòng ngừa yếu tố nguy cơ.
Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế đề xuất mô hình phân bổ linh hoạt. Theo đó, 60-80% nguồn thu bổ sung có thể dành cho quỹ BHYT, phần còn lại phân bổ cho Quỹ Phòng bệnh và ngân sách chung theo lộ trình thể chế hóa trong giai đoạn 2026-2030.
Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế đề xuất nghiên cứu cơ chế sử dụng một phần kinh phí từ các quỹ phòng, chống tác hại thuốc lá, thuế rượu, bia, đồ uống có đường để chi trả BHYT cho một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc và phát hiện sớm bệnh.
Cách tiếp cận này mở ra một hướng phân bổ nguồn lực khác cho hệ thống y tế. Thay vì chờ người dân mắc bệnh rồi mới tập trung chi trả điều trị, nguồn tiền có thể được đưa vào những khâu sớm hơn, giúp kiểm soát nguy cơ, phát hiện bệnh từ đầu và hạn chế chi phí phát sinh trong những giai đoạn bệnh nặng.
Đặc biệt, bệnh không lây nhiễm cần được đặt ở vị trí trọng tâm. Tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư cùng nhiều bệnh mạn tính khác thường tiến triển âm thầm. Nếu được sàng lọc và quản lý từ sớm, người bệnh có thêm cơ hội kiểm soát tình trạng sức khỏe, hệ thống y tế cũng giảm được áp lực điều trị ở tuyến trên.
Mở rộng nguồn lực, giữ vững vai trò của BHYT
Bên cạnh nguồn tài chính công, BHYT bổ sung và bảo hiểm sức khỏe thương mại có thể tạo thêm nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe. Theo tham luận của Techcom Insurance, khoảng 1 trong 10 người Việt Nam có bảo hiểm sức khỏe tư nhân, chủ yếu tập trung ở nhóm người đi làm có thu nhập khá hơn.
Thị trường bảo hiểm sức khỏe tư nhân còn dư địa phát triển, song việc mở rộng khu vực này cần đi cùng một ranh giới rõ ràng với BHYT xã hội. Quyền lợi cơ bản của người dân cần được bảo đảm bởi hệ thống công. Các sản phẩm bổ sung có thể đáp ứng nhu cầu nâng cao, mở rộng lựa chọn và chia sẻ thêm chi phí.
Từ kinh nghiệm các nền kinh tế APEC, bà Sejal Mistry, Crowell Global Advisors cho rằng cần “củng cố khung pháp lý và quy định để SupHI hoạt động như một phần bổ sung cho hệ thống y tế công cộng”; đồng thời xác định rõ quyền lợi cơ bản của BHYT công và cơ chế phối hợp giữa hai hệ thống.
Đây là điểm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình huy động nguồn lực xã hội. Nếu thiết kế chính sách thiếu rõ ràng, bảo hiểm bổ sung có thể tạo ra khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa các nhóm thu nhập. Khi được đặt đúng vai trò, nguồn lực tư nhân sẽ bổ trợ cho hệ thống công, giảm áp lực tài chính và mở rộng lựa chọn chăm sóc.
Cùng với việc tìm thêm nguồn thu, hiệu quả sử dụng quỹ BHYT cần được nâng lên. Lựa chọn thuốc, thiết bị y tế và dịch vụ kỹ thuật theo tiêu chí chi phí - hiệu quả, tăng hiệu quả đàm phán giá, kiểm soát lạm dụng và ngăn ngừa trục lợi quỹ sẽ giúp mỗi đồng chi cho y tế tạo ra giá trị lớn hơn.
Đích đến của cải cách tài chính y tế nằm ở một hệ thống có khả năng chủ động trước nhu cầu sức khỏe của dân số. Khi nguồn lực được đa dạng hóa, chi phí được kiểm soát và đầu tư phòng bệnh được ưu tiên, Việt Nam có thêm cơ sở để giảm gánh nặng chi tiền túi, củng cố y tế cơ sở và tiến gần hơn tới mục tiêu BHYT toàn dân bền vững.