![]() |
| Bảo đảm an ninh dữ liệu, thiết lập hành lang pháp lý bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Ảnh: AI |
Tuy nhiên, giá trị ngày càng lớn của dữ liệu cũng kéo theo nhiều nguy cơ mới. Các hành vi đánh cắp, rò rỉ, mua bán trái phép dữ liệu, tấn công vào hệ thống lưu trữ, khai thác dữ liệu xuyên biên giới hoặc lợi dụng dữ liệu để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh để bảo vệ dữ liệu quốc gia và bảo đảm an ninh dữ liệu trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội.
Theo Bộ Công an, việc xây dựng và ban hành Luật An ninh dữ liệu là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hiện hồ sơ dự án Luật đang được lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Điểm nổi bật của Dự thảo Luật An ninh dữ liệu là cách tiếp cận không chỉ dừng ở việc bảo vệ dữ liệu, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu an toàn, tin cậy, tạo nền tảng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Dự thảo Luật được xây dựng trên ba trụ cột chiến lược:
Thứ nhất, thống nhất quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu, bảo đảm dữ liệu được quản lý đồng bộ, xuyên suốt và hiệu quả.
Thứ hai, bảo đảm an ninh dữ liệu nhằm hình thành và duy trì “niềm tin số”. Đây được xem là nền tảng để người dân, doanh nghiệp yên tâm tham gia các hoạt động trên môi trường số, thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Thứ ba, xây dựng năng lực tự chủ về an ninh dữ liệu, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam không chỉ là quốc gia ứng dụng, tiêu dùng công nghệ mà còn từng bước làm chủ công nghệ, làm chủ năng lực bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an ninh dữ liệu quốc gia.
Cách tiếp cận này cho thấy tư duy quản lý dữ liệu đang chuyển từ bảo vệ dữ liệu sang kiến tạo niềm tin, coi an ninh dữ liệu là điều kiện để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Việc lấy ý kiến rộng rãi đối với Dự án Luật An ninh dữ liệu hướng tới xây dựng nền tảng pháp lý thống nhất về quản trị, khai thác và bảo vệ dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ.
Khi được ban hành, Luật An ninh dữ liệu được kỳ vọng sẽ góp phần bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời tạo dựng niềm tin số – yếu tố được xem là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi số thành công và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.
Dự thảo Luật An ninh dữ liệu gồm 9 chương, 58 điều, xây dựng khung pháp lý tương đối toàn diện về bảo đảm an ninh dữ liệu theo cấp độ rủi ro và xuyên suốt toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Theo dự kiến, Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 1/12/2027. Đáng chú ý, Dự thảo cũng đặt ra lộ trình đến ngày 01/01/2035 đối với việc chuyển đổi các hệ thống xử lý dữ liệu quan trọng, dữ liệu cốt lõi trong một số lĩnh vực sang sử dụng các giải pháp mật mã kháng lượng tử, góp phần chủ động ứng phó với những thách thức an ninh dữ liệu trong bối cảnh công nghệ lượng tử đang phát triển mạnh mẽ.
| Tại Việt Nam, các quy định về an ninh dữ liệu đang được xây dựng thông qua Dự thảo Luật An ninh dữ liệu do Bộ Công an chủ trì soạn thảo, nhằm thiết lập hành lang pháp lý bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Song song đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Luật số 91/2025/QH15) đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Nội dung cốt lõi của Dự thảo Luật An ninh dữ liệu: Phân loại dữ liệu: Quản lý theo các mức độ gồm dữ liệu Quan trọng và dữ liệu Cốt lõi phục vụ an ninh quốc gia; Bảo vệ theo cấp độ: Thiết lập hệ thống bảo đảm an ninh 4 cấp độ rủi ro; dữ liệu cốt lõi, quốc phòng phải được cách ly vật lý với Internet công cộng; Vòng đời dữ liệu: Kiểm soát toàn bộ quá trình từ thu thập, lưu trữ, xử lý, chia sẻ đến tiêu hủy; Chuyển dữ liệu xuyên biên giới: Việc chuyển dữ liệu cốt lõi ra nước ngoài bị kiểm soát nghiêm ngặt và phải có sự phê duyệt bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ; Chế tài xử phạt: Mức phạt tiền tối đa lên đến 5% tổng doanh thu tại Việt Nam (hoặc doanh thu toàn cầu tùy quy mô) đối với các vi phạm đặc biệt nghiêm trọng; Các hành vi nghiêm cấm cơ bản: Xử lý dữ liệu nhằm chống lại Nhà nước hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia; Mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân hoặc dữ liệu quan trọng; Cản trở các hoạt động bảo vệ dữ liệu theo quy định pháp luật. |