![]() |
| Vận động người dân tham gia BHXH, BHYT. |
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030 của Quốc hội quyết nghị mục tiêu tổng quát là phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hoá và con người Việt Nam; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.
Đáng chú ý, Nghị quyết cũng đặt ra các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cả nước đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 là 8.500 USD/năm; tuổi thọ trung bình 75,5; giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) từ 1-1,5 điểm%/năm; đến năm 2030 đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân;…
Để thực hiện các mục tiêu trên, Quốc hội đã vạch ra 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Theo đó, sẽ tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế.
![]() |
| Ứng dụng AI trong khám chữa bệnh BHYT. |
Cùng với đó, tập trung xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài…
Riêng về lĩnh vực xã hội, Quốc hội quyết nghị tập trung quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Đồng thời, chủ động hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội…
Việc Quốc hội đặt mục tiêu đến năm 2030 bao phủ BHYT toàn dân hoàn toàn có cơ sở. Theo đó, hiện nay, tỷ lệ bao phủ BHYT của nước ta đã đạt trên 95,16% dân số - con số đạt được dựa trên sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ trung ương tới cơ sở. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách ngày càng được hoàn thiện; quy trình thủ tục tham gia và hưởng BHYT ngày càng được cải thiện thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Đáng chú ý, ngân sách nhà nước đã hỗ trợ kinh phí tham gia BHYT cho nhiều nhóm đối tượng; quy trình và chất lượng khám chữa bệnh BHYT được cải tiến và nâng cao; quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng. Đây là điều cốt lõi giúp gia tăng niềm tin của người dân vào chính sách, cũng như thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước dành cho người dân, nhất là những người có công, người có hoàn cảnh khó khăn.
Trước đó, ngày 3/10/2025, Ban Bí thư cũng đã ban hành Chỉ thị số 52-CT/TW về thực hiện BHYT toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2026 có trên 95% dân số tham gia BHYT và đến năm 2030 tiến tới bao phủ BHYT toàn dân. Đây là yêu cầu chính trị gắn với nhiệm vụ bảo đảm an sinh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
![]() |
| Hướng dẫn người dân làm thủ tục đăng ký khám chữa bệnh BHYT. |
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc thực hiện mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân cũng đặt ra không ít thách thức, khó khăn. Bởi, thực tế cho thấy, khoảng 4,84% dân số chưa tham gia BHYT chủ yếu thuộc những nhóm khó vận động, như: Nhóm lao động tự do; hộ cận nghèo, hộ nông - lâm – ngư - diêm nghiệp có mức sống trung bình; nhóm học sinh, sinh viên; thậm chí ngay cả nhóm lao động thuộc diện tham gia BHXH, BHYT bắt buộc cũng chưa được tham gia đầy đủ, do bị chủ sử dụng lao động tìm cách trốn đóng.
Đối với nhóm lao động tự do, theo đánh giá của các địa phương, nhóm này thường có thu nhập không ổn định, di biến động thường xuyên. Thực tế cho thấy, một số lao động tự do không hiểu rõ chính sách, thậm chí chủ quan với sức khỏe, nên chỉ khi nào ốm đau phải tự bỏ tiền túi ra chi trả chi phí khám chữa bệnh mới sốt sắng “tìm mua BHYT”.
Cũng trong nhóm lao động tự do có không ít người có điều kiện về kinh tế, nhưng cố tình “không thích” để từ chối tham gia BHYT. Có người khi được vận động còn cho rằng “có tiền thì cứ vào bệnh viện tư nhân khám cho sướng”, đến khi phải chi trả số tiền lớn hoặc sa cơ lỡ vận mới ân hận thì đã muộn.
Đối với nhóm hộ cận nghèo, hộ nông - lâm - ngư - diêm nghiệp có mức sống trung bình, mặc dù được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí tham gia, nhưng khoản tự đóng (30% hoặc 70% còn lại) vẫn thực sự lớn so với khả năng tài chính của họ. Thậm chí, nhiều người có hoàn cảnh kinh tế chênh vênh giữa “cận nghèo” và “nghèo”, nên để vận động họ tham gia không phải đơn giản.
Riêng đối với nhóm học sinh, sinh viên - mặc dù thuộc nhóm tham gia BHYT bắt buộc, nhưng cả nước vẫn còn khoảng 1,6% chưa tham gia. Nguyên nhân là do chưa có chế tài xử lý nghiêm đối với những trường học, cá nhân không tham gia; ý thức tuân thủ pháp luật và tinh thần chia sẻ cộng đồng của một bộ phận nhỏ phụ huynh và học sinh, sinh viên còn hạn chế…
Sau khi sáp nhập các tỉnh, thành phố và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công tác BHXH, BHYT đã được cấp ủy, chính quyền các cấp tái định vị và triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, nhiều địa phương đã có những giải pháp, sáng kiến, phong trào, mô hình, cách làm sáng tạo trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT…
Đáng chú ý, nhiều địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Đà Nẵng... còn bố trí ngân sách hỗ trợ thêm cho một số nhóm đối tượng tham gia BHYT. Hay như, tích cực vận động doanh nghiệp, mạnh thường quân hỗ trợ kinh phí giúp người có hoàn cảnh khó khăn tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình… Những phong trào, mô hình này không chỉ giúp nhiều người được tiếp cận chính sách, mà còn góp phần lan tỏa tinh thần “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta.
Cũng theo Chỉ thị số 52-CT/TW, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tập trung sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật BHYT đáp ứng mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân; nghiên cứu nâng mức đóng BHYT phù hợp với việc mở rộng phạm vi quyền lợi, mức hưởng; thí điểm, đa dạng hóa các gói BHYT theo nhu cầu của người dân. Đồng thời, đa dạng, mở rộng các nguồn thu theo hướng bền vững, chú trọng phát triển quỹ BHYT để phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Để hiện thực hóa Chỉ thị này và các Nghị quyết của Đảng, việc Quốc hội khóa XV chốt mục tiêu “BHYT toàn dân” đến năm 2030 là hoàn toàn có cơ sở và khả thi. Song, để thực hiện đòi hỏi các cấp, các ngành cần chủ động, sáng tạo trong thực hiện. Trong đó, cần từng bước tăng tỷ lệ, mức thanh toán đối với các dịch vụ phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh phù hợp với khả năng cân đối của quỹ BHYT.
Bên cạnh đó, ngành BHXH và ngành Y tế cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, phương thức tuyên truyền đảm bảo đúng trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng nhóm đối tượng; chú trọng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT; kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT. Ngoài ra, cần đầu tư đẩy mạnh cải cách hành chính, liên thông dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong toàn bộ quy trình, thủ tục khám chữa bệnh BHYT, để tạo thuận lợi cho người dân, cơ sở y tế cũng như cơ quan BHXH.