![]() |
| Các doanh nghiệp cần quan tâm đến các chính sách phúc lợi bổ sung phù hợp với lao động nữ. Ảnh minh họa: H.D |
Tại 3 cuộc đối thoại điểm do Liên đoàn Lao động TP. Hà Nội phối hợp tổ chức trong năm 2026, nhiều kiến nghị của lao động nữ tập trung vào những khó khăn trực tiếp trong công việc và đời sống, đặc biệt là nhu cầu chăm sóc con nhỏ, ổn định việc làm sau thai sản và cải thiện điều kiện lao động.
Tại Công ty cổ phần Bệnh viện Thẩm mỹ Thu Cúc, bên cạnh mong muốn được cung cấp đầy đủ thông tin về chính sách phúc lợi và hỗ trợ cập nhật kiến thức chuyên môn, người lao động đặc biệt quan tâm đến việc ổn định công việc sau thời gian nghỉ thai sản.
Trong khi đó, tại Công ty TNHH Quốc tế Hồ Tây, sau khi khảo sát 168 lao động nữ, Công đoàn cơ sở đã đề xuất hỗ trợ chi phí gửi trẻ cho người lao động có con dưới 5 tuổi. Qua đối thoại, doanh nghiệp thống nhất hỗ trợ 100.000 đồng/người/tháng, giao Phòng Nhân sự và Phòng Kế toán đưa chính sách vào Quy chế phúc lợi, dự kiến áp dụng từ ngày 1/1/2027.
Đồng thời, doanh nghiệp cam kết cho người lao động nghỉ hưởng nguyên lương và nhận thưởng nhân Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11; trường hợp phải làm việc được bố trí nghỉ bù ba ngày. Công ty cũng tài trợ toàn bộ chi phí tổ chức các hoạt động trải nghiệm, đào tạo kỹ năng cho lao động nữ vào dịp 8/3 và 20/10.
Tại Công ty TNHH Thời trang Star, Khu công nghiệp Phú Nghĩa, những kiến nghị lại tập trung vào môi trường làm việc và điều kiện chăm sóc sức khỏe. Lao động nữ đề xuất lắp đặt điều hòa để giảm nóng bức, nâng cấp phòng y tế phục vụ công nhân. Từ kết quả đối thoại, doanh nghiệp dự kiến đầu tư khoảng 67 tỷ đồng lắp đặt điều hòa, đồng thời xây dựng kế hoạch cải tạo phòng y tế.
Về chính sách an sinh, bảo hiểm xã hội (BHXH) giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập cho lao động nữ khi nghỉ thai sản, cũng như thực hiện chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản theo quy định. Trong khi đó, bảo hiểm y tế (BHYT) bảo đảm quyền lợi khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng của người tham gia.
Tuy nhiên, các chế độ bảo hiểm không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu phát sinh trong quá trình làm việc, đặc biệt đối với lao động nữ đang mang thai, nuôi con nhỏ hoặc trở lại làm việc sau thời gian nghỉ sinh. Vì thế, bên cạnh việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm tham gia, đóng BHXH, BHYT cho người lao động, doanh nghiệp cần quan tâm đến các chính sách phúc lợi bổ sung phù hợp với khả năng tài chính và đặc thù hoạt động. Qua đó, không chỉ giúp người lao động giảm bớt khó khăn mà còn tạo điều kiện để họ tiếp tục gắn bó với doanh nghiệp.
Lợi ích từ những chính sách này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Theo báo cáo “Phụ nữ trong kinh doanh và quản lý: Nhân rộng thành công”, được xây dựng trên cơ sở khảo sát năm 2025 với 11.957 doanh nghiệp tại 99 quốc gia, trong đó có Việt Nam, 68,5% doanh nghiệp cho biết các sáng kiến thúc đẩy bình đẳng giới và đa dạng mang lại kết quả tích cực cho hoạt động kinh doanh, tăng 11,1 điểm phần trăm so với năm 2018.
Trong số các doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận tăng liên quan đến những sáng kiến thúc đẩy phụ nữ tham gia quản lý, 87,4% cho biết mức tăng lợi nhuận đạt ít nhất 5%, trong đó 13,4% ghi nhận mức tăng trên 20%.
Đặc biệt, các chương trình nghỉ thai sản và hỗ trợ người lao động thuộc nhóm sáng kiến được doanh nghiệp đánh giá có hiệu quả cao, với tỷ lệ 74,7%. Những kết quả khảo sát này cho thấy việc quan tâm đến quyền lợi và cơ hội phát triển của lao động nữ không chỉ mang ý nghĩa an sinh mà còn có mối liên hệ tích cực với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Dù lợi ích từ các chính sách hỗ trợ phụ nữ ngày càng được ghi nhận, báo cáo của ILO cũng chỉ ra khoảng cách đáng kể giữa việc ban hành chính sách và triển khai trên thực tế.
Năm 2025, có 74,8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết đã ban hành chính sách về bình đẳng giới và đa dạng hoặc các chính sách tương đương. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp thực sự triển khai các sáng kiến liên quan lại giảm từ 37,4% năm 2018 xuống còn 26,5% năm 2025.
Đáng chú ý, xu hướng giảm diễn ra ngay ở những biện pháp được đánh giá mang lại hiệu quả tích cực. Trong đó, tỷ lệ triển khai các chương trình nghỉ thai sản và hỗ trợ người lao động giảm 11,3 điểm phần trăm; các sáng kiến bảo đảm trả lương bình đẳng giảm 19,6 điểm phần trăm.
Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam cho biết, khảo sát các doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy bình đẳng giới và hòa nhập có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả kinh doanh, đồng thời nhiều doanh nghiệp đã ban hành các chính sách liên quan. Vì vậy, bước tiếp theo là bảo đảm những chính sách này được thực hiện nhất quán đối với người lao động, trong đó có nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ đối với công việc có giá trị ngang nhau, cũng như các chính sách hỗ trợ người lao động có con nhỏ.
Báo cáo của ILO đề xuất, doanh nghiệp tạo thêm cơ hội để phụ nữ phát triển và đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo; sử dụng chỉ số về bình đẳng giới và đặt ra những mục tiêu tự nguyện; mở rộng cơ hội tiếp cận các ngành nghề, vị trí mà phụ nữ còn chiếm tỷ lệ thấp. Đồng thời, bình đẳng giới cần được đưa vào chiến lược kinh doanh và cơ chế đánh giá trách nhiệm của doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở những cam kết chung.
Đối với doanh nghiệp, việc chăm lo lao động nữ còn gắn với yêu cầu ổn định nguồn nhân lực. Khi người lao động có điều kiện tiếp tục làm việc sau thai sản, được hỗ trợ chăm sóc gia đình và bảo đảm môi trường làm việc phù hợp, doanh nghiệp cũng có thêm cơ sở để giữ chân nhân sự, hạn chế chi phí tuyển dụng, đào tạo lại và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích này, chính sách phúc lợi cần được duy trì thường xuyên và phù hợp với khả năng thực hiện của từng doanh nghiệp. Các khoản hỗ trợ tự nguyện phải được phân biệt rõ với những quyền lợi BHXH, BHYT và chế độ lao động bắt buộc theo quy định pháp luật.
Theo báo cáo của ILO, thách thức hiện nay không còn chủ yếu nằm ở việc xác định giải pháp nào có hiệu quả, mà là bảo đảm các giải pháp đó được triển khai nhất quán và trên quy mô rộng. Điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, tổ chức đại diện người lao động và cộng đồng doanh nghiệp trong hỗ trợ chăm sóc gia đình, phát triển nghề nghiệp và tháo gỡ những rào cản đối với lao động nữ.