![]() |
| Các chuyên gia đề xuất Việt Nam nghiên cứu chính sách BHYT hỗ trợ người bệnh vô sinh, hiếm muộn theo từng bước. Ảnh minh họa. |
Một hành trình điều trị vô sinh, hiếm muộn thường bắt đầu từ những lần thăm khám, xét nghiệm, siêu âm và các thăm dò chuyên sâu. Với nhiều cặp vợ chồng, đây đã là khoản chi đáng kể trước khi bước vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Khi phải thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, gánh nặng tài chính tiếp tục tăng lên đáng kể.
Chia sẻ tại Hội nghị Sản phụ khoa Quốc tế 2026 diễn ra mới đây, GS.,TS. Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, nguyên Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, cho biết một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm hiện có chi phí trung bình khoảng 70-100 triệu đồng, tùy nguyên nhân và mức độ khó của từng trường hợp. Những trường hợp phức tạp có thể phát sinh chi phí cao hơn.
Với các gia đình có điều kiện kinh tế hạn chế, con đường tìm kiếm cơ hội làm cha mẹ vì thế trở thành một hành trình đầy áp lực. Người bệnh có thể phải điều trị nhiều lần, trong khi kết quả không phải lúc nào cũng đến ngay ở chu kỳ đầu tiên. Mỗi lần điều trị đồng nghĩa với một khoản chi phí lớn, tạo thêm sức ép cho gia đình.
Gánh nặng ấy đặt ra câu hỏi về vai trò của chính sách tài chính y tế đối với điều trị vô sinh, hiếm muộn. Khi hiếm muộn ngày càng được nhìn nhận như một vấn đề sức khỏe cần được quan tâm ở cấp độ cộng đồng, việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ điều trị trở thành yêu cầu đáng được nghiên cứu.
Hiếm muộn cần được nhìn nhận như một vấn đề y tế
Theo PGS.,TS. Vương Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, thành viên ban soạn thảo hướng dẫn của WHO, hiếm muộn gây trở ngại cho việc thực hiện mong muốn và mục tiêu sinh sản của mỗi cá nhân, cặp đôi. Vấn đề này gắn với quyền được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận công bằng các dịch vụ y tế.
Từ góc nhìn y tế công cộng, việc phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn cần được tiếp cận phù hợp với đặc điểm của từng người bệnh và từng cặp đôi. Đây cũng là tinh thần trong hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn.
PGS.,TS. Vương Thị Ngọc Lan cho rằng tại nhiều quốc gia, hiếm muộn vẫn chưa được đưa đầy đủ vào chính sách y tế quốc gia hoặc chính sách BHYT. Điều này khiến khả năng tiếp cận các dịch vụ điều trị phụ thuộc nhiều vào năng lực tài chính của từng gia đình, từ đó tạo ra khoảng cách giữa nhu cầu điều trị và khả năng chi trả.
WHO khuyến cáo các quốc gia xem hiếm muộn là vấn đề y tế công cộng hàng đầu để vận động các nhà hoạch định chính sách có đầu tư thích đáng, đưa nội dung này vào chính sách y tế quốc gia. Đây là cách tiếp cận đặt sức khỏe sinh sản trong tổng thể quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân.
Tại Việt Nam, vấn đề càng trở nên đáng quan tâm khi tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn được ghi nhận ở mức cao. GS.,TS. Nguyễn Viết Tiến cho biết một nghiên cứu thuộc đề tài cấp Nhà nước từng công bố khoảng 7,7% các cặp vợ chồng bị vô sinh cần được can thiệp. Theo ông, tỷ lệ thực tế hiện nay nhiều khả năng đã cao hơn.
Xu hướng kết hôn muộn, tuổi kết hôn ngày càng cao cũng được xem là một trong những yếu tố liên quan đến nguy cơ vô sinh, hiếm muộn. Khi độ tuổi sinh con tăng, thời gian để phát hiện và xử lý những vấn đề liên quan đến khả năng sinh sản cũng trở thành yếu tố cần được quan tâm trong chăm sóc sức khỏe.
Nếu được phát hiện sớm, nhiều trường hợp có thể được tư vấn, điều trị phù hợp trước khi phải sử dụng những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phức tạp. Vì vậy, hỗ trợ từ giai đoạn thăm khám và chẩn đoán có thể mang lại ý nghĩa thiết thực, giúp người bệnh tiếp cận dịch vụ sớm hơn và giảm nguy cơ phải điều trị ở giai đoạn tốn kém hơn.
Mở rộng BHYT theo lộ trình, ưu tiên người cần hỗ trợ
Từ thực tế điều trị, GS.,TS Nguyễn Viết Tiến đề xuất Việt Nam nghiên cứu chính sách BHYT hỗ trợ người bệnh vô sinh, hiếm muộn theo từng bước. Nếu chưa thể thanh toán toàn bộ các kỹ thuật có chi phí cao, trước hết có thể xem xét hỗ trợ một phần chi phí thăm khám, xét nghiệm, siêu âm và các thăm dò cần thiết.
Đây được xem là bước đi phù hợp với khả năng của chính sách BHYT, đồng thời tác động trực tiếp đến giai đoạn đầu của quá trình điều trị. Người bệnh có thể giảm bớt khoản tiền phải tự chi trả khi thực hiện các xét nghiệm và thăm dò cần thiết để xác định nguyên nhân, từ đó được tư vấn hướng điều trị phù hợp.
GS.,TS. Nguyễn Viết Tiến cho rằng nếu chưa thể bảo hiểm toàn bộ chi phí điều trị, nhất là những kỹ thuật đắt tiền như thụ tinh trong ống nghiệm, chính sách có thể triển khai theo lộ trình. Những khoản hỗ trợ dù ở mức độ nào cũng có thể giúp giảm áp lực tài chính cho các cặp vợ chồng đang tìm kiếm cơ hội điều trị.
Sau giai đoạn hỗ trợ thăm khám và chẩn đoán, chính sách có thể hướng đến những nhóm ưu tiên. Các cặp vợ chồng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc thuộc nhóm cần được hỗ trợ có thể được nghiên cứu cơ chế thanh toán một phần đối với những kỹ thuật điều trị có chi phí cao.
Kinh nghiệm trong nước cũng có thể trở thành cơ sở tham khảo. GS.,TS. Nguyễn Viết Tiến cho biết trong quân đội, chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng quân nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm đã được triển khai, với mức hỗ trợ cao nhất có thể lên tới 300 triệu đồng. Theo chuyên gia này, đây là một chính sách tốt để nghiên cứu trong quá trình xây dựng cơ chế phù hợp.
Cách tiếp cận theo từng bước cũng giúp chính sách có thời gian đánh giá hiệu quả, xác định nhóm ưu tiên và cân đối nguồn lực. Với một lĩnh vực có chi phí điều trị cao, việc thiết kế chính sách cần gắn với khả năng tài chính của quỹ BHYT, nhu cầu thực tế và nguyên tắc bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ.
Đằng sau mỗi con số về tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn là những gia đình đang mong muốn có con. GS.,TS. Nguyễn Viết Tiến cho biết những người trực tiếp điều trị thấu hiểu hoàn cảnh, mong muốn và khó khăn mà các cặp vợ chồng phải đối mặt. Vì vậy, chuyên gia này mong chính sách hỗ trợ được nghiên cứu và triển khai sớm, từng bước, thiết thực và hiệu quả.