![]() |
| Tiền lương đóng BHXH thấp hơn thu nhập thực nhận sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của lao động. |
“Lách” luật để đóng BHXH thấp
Theo Cục Tiền lương và BHXH (Bộ Nội vụ), Luật BHXH năm 2024 và các Nghị định hướng dẫn (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) đã quy định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định là tiền lương tháng gồm: Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương chưa được tính đến, hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Tuy nhiên, theo báo cáo Lương và Thị trường lao động năm 2026 của Navigos Group (tập đoàn cung cấp dịch vụ tuyển dụng nhân sự) dựa trên dữ liệu khảo sát của hơn 1.600 ứng viên/người lao động đang làm việc tại Việt Nam cho thấy, vẫn còn khoảng cách giữa mức lương đóng BHXH và mức lương thực nhận của người lao động.
Ở nhóm quyền lợi bắt buộc, hơn 91% lao động tham gia BHXH, trên 84% có BHYT và khoảng 79% tham gia BH thất nghiệp. Tuy nhiên, cách thức đóng BHXH giữa các doanh nghiệp có sự chênh lệch lớn. Cụ thể, hơn 43% doanh nghiệp chỉ đóng BHXH trên một mức lương cố định, thấp hơn thu nhập thực tế của người lao động. Gần 11% chỉ đóng trên mức lương tối thiểu vùng (vùng I như TP HCM, Hà Nội năm 2025 là 4,96 triệu đồng) và khoảng 5% không đóng BHXH.
Theo báo cáo, nhóm lao động thường xuyên bị đóng BHXH thấp hơn thu nhập thực tế hoặc chỉ ở mức tối thiểu vùng chủ yếu làm việc tại doanh nghiệp nhỏ - nơi chịu áp lực chi phí lớn và năng lực tuân thủ pháp luật còn hạn chế. Ngoài ra, tình trạng này cũng phổ biến ở lao động phi chính thức hoặc các công việc mang tính lặp lại, thủ công trong những ngành đang thu hẹp như may mặc, bán lẻ.
Lý giải nguyên nhân, Navigos Group cho rằng nhiều doanh nghiệp “chẻ” thu nhập thành lương cơ bản và các khoản phụ cấp, hỗ trợ nhằm giảm chi phí đóng bảo hiểm. Một số trường hợp khác xuất phát từ việc thiếu hiểu biết pháp luật hoặc cố tình lách quy định để duy trì khả năng cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Một số doanh nghiệp lựa chọn đóng BHXH trên mức lương thấp hơn để tối ưu chi phí lao động, giảm tổng nghĩa vụ đóng BHXH hoặc duy trì tính cạnh tranh chi phí trong bối cảnh thị trường còn nhiều áp lực.
Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam cũng chỉ ra thực trạng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động hiện khá thấp so với thu nhập thực tế. Nguyên nhân do nhiều doanh nghiệp thực thi không đầy đủ quy định, tách thu nhập của người lao động thành nhiều khoản phụ cấp, trợ cấp để không phải tính đóng, song cơ quan BHXH không đủ cơ sở pháp lý để buộc doanh nghiệp phải đóng các khoản này. Do đó, tại nhiều nơi, mức đóng BHXH của người lao động chỉ chiếm trên 60% thu nhập ảnh hưởng đến việc hưởng các quyền lợi, nhất là chế độ hưu trí sau này.
Cần xây dựng lộ trình đóng BHXH phù hợp
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông Nguyễn Hải Đạt - Điều phối viên Chương trình Quốc gia về An sinh xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết, việc khai thu nhập làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn thực tế từng phổ biến ở nhiều nền kinh tế chuyển đổi hoặc mới hình thành hệ thống BHXH. Doanh nghiệp chỉ ghi lương chính thức thấp trong hợp đồng, phần còn lại trả dưới dạng “lương phong bì”, tức thỏa thuận miệng hoặc phân bổ sang các khoản phụ cấp, thưởng không thuộc diện đóng.
![]() |
| Tăng cường tuyên truyền chính sách BHXH cho người lao động. |
Tuy nhiên, các hình thức này giảm xuống sau các nỗ lực thúc đẩy tuân thủ chính sách an sinh xã hội của các nước. Điển hình như Romania năm 2007 có 22% lao động nhận “lương phong bì”, đến năm 2019 con số này còn dưới 5%. Một bài học quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa lương thực nhận và lương làm căn cứ đóng BHXH là phải liên thông chặt chẽ giữa thuế - BHXH - tiền lương. Nếu thực hiện tốt điều này doanh nghiệp khó khai thấp vì các dữ liệu được đối chiếu thường xuyên.
Nghiên cứu của ILO cũng chỉ ra rằng, dù một bộ phận lao động chấp nhận lương ngoài để tăng thu nhập trước mắt, phần lớn hình thức này do người sử dụng lao động áp đặt. Tại Liên minh châu Âu, chỉ một trong ba lao động nhận lương không khai báo cho biết họ hài lòng, số còn lại phàn nàn vì quyền lợi tín dụng, hưu trí và các chế độ bảo vệ xã hội bị thu hẹp.
Từ góc độ chính sách, ILO cho biết nhiều quốc gia như Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Philippines đã chuyển sang đóng BHXH trên tổng thu nhập thay vì bóc tách từng khoản. Cách tiếp cận này giúp thu hẹp khoảng cách giữa lương thực nhận và quyền lợi an sinh, hạn chế tranh cãi về căn cứ đóng.
Đối với Việt Nam, ông Đạt cho rằng, tỷ lệ đóng BHXH hiện nay không cao. Tổng mức đóng BHXH bắt buộc (không tính BHYT) khoảng 27,5% tiền lương làm căn cứ, tương đương nhiều quốc gia trong khu vực và không chênh lệch lớn so với các nước có hệ thống an sinh toàn diện hơn. Tuy nhiên, mức hưởng của Việt Nam cao hơn chuẩn tối thiểu quốc tế như: Trợ cấp thất nghiệp 60% trong khi chuẩn tối thiểu 45% hay lương hưu có thể đạt 70 - 75% sau 30 năm đóng; thai sản hưởng 100% mức đóng trong 6 tháng. “Vấn đề ở chỗ lương làm căn cứ đóng BHXH của lao động chỉ chiếm một phần thu nhập thực tế nên mức hưởng thực nhận lại thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn”, ông Đạt đánh giá.
ILO khuyến nghị xây dựng lộ trình tăng dần nền đóng BHXH, tiến tới tính trên tổng thu nhập. Thay vì bóc tách từng khoản phụ cấp, có thể áp dụng cơ chế điều chỉnh lũy tiến, cho phép doanh nghiệp và người lao động có thời gian thích nghi. Chẳng hạn, nếu mục tiêu là đóng BHXH trên toàn bộ tiền lương, chính sách có thể triển khai theo lộ trình 10 năm, mỗi năm tăng khoảng 10% phần chênh lệch giữa thu nhập thực tế và mức đang đóng. Cách làm này giúp giảm áp lực chi phí và hạn chế phản ứng tiêu cực. “Các phương án cần được xây dựng trên đối thoại giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, phản ánh đúng thực tiễn thị trường lao động, đồng thời hướng tới mục tiêu đưa toàn bộ tiền lương vào diện chịu đóng BHXH”, ông Đạt nhận định.