![]() |
| Xét tặng, truy tặng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang. Ảnh có sự hỗ trợ của AI |
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 45/2026/QĐ-TTg về quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; trong đó, có việc xét tặng, truy tặng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang. Một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình xét tặng, truy tặng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang là việc kê khai và cung cấp hồ sơ chứng minh quá trình công tác. Thanh niên xung phong hoặc thân nhân có trách nhiệm kê khai trung thực, chính xác, cung cấp đầy đủ giấy tờ, hồ sơ chứng minh quá trình công tác trong các đơn vị thanh niên xung phong. Người kê khai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai cũng như tính pháp lý của các giấy tờ, hồ sơ minh chứng.
Thời gian làm căn cứ xét khen thưởng được xác định theo từng giai đoạn lịch sử:
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thời gian được tính từ ngày 15/7/1950 đến ngày 20/7/1954. Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ được tính từ ngày 21/7/1954 đến ngày 30/4/1975, bao gồm hoạt động chống đế quốc Mỹ ở miền Bắc, miền Nam và thời gian làm nhiệm vụ giúp nước bạn Lào từ tháng 5/1972 đến tháng 12/1975.
Thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, thời gian được xác định theo từng nhiệm vụ cụ thể. Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam được tính từ tháng 5/1975 đến ngày 7/1/1979; chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc từ tháng 2/1979 đến ngày 31/12/1988.
Thời gian làm nhiệm vụ giúp nước bạn Lào được tính từ tháng 5/1975 đến ngày 31/12/1988; làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia từ tháng 1/1979 đến ngày 31/8/1989; làm nhiệm vụ truy quét Ful-rô từ tháng 5/1975 đến tháng 12/1992.
Quyết định 45/2026/QĐ-TTg nêu rõ, việc xét tặng, truy tặng được thực hiện theo nguyên tắc mỗi thanh niên xung phong chỉ được xét một lần và duy nhất. Thời gian tham gia công tác tại các giai đoạn, mốc thời gian nêu trên được cộng dồn để xác định đủ điều kiện về thời gian tham gia lực lượng thanh niên xung phong.
Đồng thời, quy định những trường hợp không được xét tặng, truy tặng. Theo đó, không xét đối với người bị kết tội bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác bị áp dụng hình phạt tù. Và không xét đối với trường hợp tham gia chống phá chế độ, Đảng, Nhà nước, đào ngũ, phản bội, chiêu hồi và bị chấm dứt hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
Hồ sơ đề nghị xét tặng đối với thanh niên xung phong tự kê khai được thực hiện theo Mẫu số 01 Phụ lục I, ban hành kèm theo Quyết định 45/2026/QĐ-TTg. Đối với thanh niên xung phong già, yếu hoặc đã hy sinh, từ trần, đại diện thân nhân đứng tên lập bản khai theo Mẫu số 02 Phụ lục I. Giấy tờ minh chứng phải thể hiện được đơn vị tham gia thanh niên xung phong và tổng thời gian tham gia được cộng dồn đủ 24 tháng trở lên. Trường hợp là liệt sĩ phải có giấy tờ chứng minh người đó là liệt sĩ khi đang làm nhiệm vụ thanh niên xung phong.
Các loại giấy tờ được sử dụng để chứng minh gồm lý lịch cán bộ, phiếu cá nhân, lý lịch đảng viên có thể hiện thời gian tham gia thanh niên xung phong; quyết định nghỉ hưu, hưởng bảo hiểm xã hội có thông tin về thời gian tham gia; quyết định hưởng trợ cấp, chính sách đối với thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ; quyết định hưởng chế độ một lần theo Quyết định số 176-HĐBT ngày 9/9/1989; giấy chứng nhận hoặc xác nhận thanh niên xung phong của Tổng hội Thanh niên xung phong được cấp tại thời điểm hoàn thành nhiệm vụ.
Ngoài ra, có thể sử dụng các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trước thời điểm thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương, như giấy chứng nhận hoàn thành nhiệm vụ, giấy chuyển thương, chuyển viện, phiếu sức khỏe, giấy khen trong thời gian tham gia lực lượng, giấy điều động công tác, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ có thông tin về thời gian tham gia thanh niên xung phong.
Đối với người đã được khen thưởng thành tích kháng chiến, hồ sơ có thể sử dụng bản sao y bằng Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo quy định, kèm bản khai thành tích đã được xét duyệt nếu trong đó có thông tin về thời gian tham gia thanh niên xung phong.
Đối với liệt sĩ, hồ sơ cần có bản sao y Bằng Tổ quốc ghi công ghi thông tin là thanh niên xung phong. Nếu Bằng Tổ quốc ghi công không ghi thông tin này thì phải có giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận người hy sinh là thanh niên xung phong, như trích lục hồ sơ liệt sĩ.
Về thẩm quyền, Chủ tịch UBND cấp xã chỉ đạo việc thẩm định hồ sơ đề nghị xét tặng, truy tặng trên địa bàn, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, đề nghị khen thưởng. Chủ tịch UBND cấp tỉnh chỉ đạo thẩm định hồ sơ trên địa bàn, trình Thủ tướng Chính phủ xét, trình Chủ tịch nước quyết định tặng, truy tặng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang thông qua Bộ Nội vụ. Bộ Nội vụ có trách nhiệm thẩm định hồ sơ để trình Thủ tướng Chính phủ xét, trình Chủ tịch nước quyết định.
Các quy định về đối tượng, thời gian, hồ sơ và trình tự xét tặng, truy tặng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang nhằm bảo đảm việc ghi nhận, tôn vinh đúng đối tượng, đúng thành tích và có căn cứ pháp lý rõ ràng; đồng thời tạo điều kiện để những thanh niên xung phong có đóng góp trong các cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được xem xét khen thưởng theo quy định.