![]() |
| Người lao động được hỗ trợ tiền dịch vụ tham gia đánh giá kỹ năng nghề theo mức thu thực tế của tổ chức đánh giá, tối đa không quá 4.000.000 đồng/người/lần. Ảnh: VGP |
Quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về phát triển kỹ năng nghề, theo Nghị định 138/2026/NĐ-CP: Người lao động thuộc các đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật Việc làm 2025 được Nhà nước hỗ trợ nhiều khoản chi phí trong quá trình tham gia đánh giá kỹ năng nghề.
Cụ thể, hỗ trợ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia với mức tối đa 300.000 đồng/người/lần; hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian thực tế tham gia đánh giá là 50.000 đồng/người/ngày; hỗ trợ chi phí đi lại từ nơi ở đến địa điểm đánh giá với mức 200.000 đồng/người/lượt đi và về (đối với trường hợp cách địa điểm đánh giá từ 15 km trở lên) và 300.000 đồng/người/lượt đi và về (đối với người lao động cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cách địa điểm đánh giá từ 5 km trở lên).
Bên cạnh đó, còn được hỗ trợ tiền dịch vụ tham gia đánh giá kỹ năng nghề theo mức thu thực tế của tổ chức đánh giá, tối đa không quá 4.000.000 đồng/người/lần, theo từng bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia của từng nghề. Tuy nhiên, mỗi người lao động thuộc diện được hỗ trợ chỉ được hưởng chính sách này một lần khi tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Nghị định 138/2026/NĐ-CP cũng quy định về kinh phí thực hiện các chính sách hỗ trợ này. Đó là được bố trí từ ngân sách nhà nước theo phân cấp; đồng thời, có thể huy động thêm từ các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác (tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp). Nếu địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể được trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức hỗ trợ cao hơn so với mức quy định.
| Người lao động thuộc các đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật Việc làm 2025 “3. Nhà nước hỗ trợ người lao động thuộc các đối tượng sau đây khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia: a) Người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; b) Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; c) Người khuyết tật; d) Người cao tuổi; đ) Người dân tộc thiểu số; e) Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; g) Thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; h) Trí thức trẻ tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác tại khu kinh tế - quốc phòng; i) Đối tượng khác do Chính phủ quyết định căn cứ tình hình kinh tế - xã hội” |